Khác

Hai cuộc kháng Pháp của dân tộc Việt Nam (1)

Trong nửa cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX, dân tộc ta phải hai lần tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Kết quả của hai cuộc kháng chiến đó tuy khác nhau nhưng đều để lại bài học lịch sử về phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh của toàn dân tộc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Phú Thọ11/03/2026CLB trẻ (Đoàn Phúc Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đầu tháng 9-1858, thực dân Pháp nổ súng tiến công Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, dân tộc ta phải đương đầu với họa xâm lăng từ một nước phương Tây, hoàn toàn chiếm ưu thế về tiềm lực kinh tế, quân sự, nhất là về vũ khí, công nghệ quân sự. Trong gần 30 năm tiếp theo, quân Pháp lần lượt đánh chiếm Nam Kỳ, Bắc Kỳ rồi tiến công vào kinh đô Huế (1883), buộc triều đình nhà Nguyễn từng bước phải nhượng bộ, lần lượt ký các hiệp ước Nhâm Tuất (1862), Giáp Tuất (1874), Quý Mùi (1883) và cuối cùng là Hiệp ước Giáp Thân (1884), thừa nhận nền thống trị của thực dân Pháp trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Từ nhà nước phong kiến độc lập, triều đình Huế trở thành chính quyền bù nhìn, tay sai cho ngoại bang.

Mặc dù, thực dân Pháp khuất phục được triều đình nhà Nguyễn, nhưng không thể đè bẹp tinh thần kháng chiến của dân tộc Việt Nam. Trong thời kỳ đầu, nhân dân ta phối hợp với quân đội triều đình anh dũng chiến đấu chống quân xâm lược Pháp ở những nơi chúng đánh chiếm, như: Đà Nẵng, Gia Định, Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Đồng thời, xuất hiện các cuộc nổi dậy chống quân xâm lược ở các vùng địch chiếm đóng, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân, v.v. Sau khi triều đình nhà Nguyễn đầu hàng, phong trào đấu tranh chống quân xâm lược của nhân dân ta lại bước sang giai đoạn mới, với quy mô rộng lớn và khí thế mạnh mẽ hơn. Đó là phong trào Cần Vương do các văn thân, sĩ phu yêu nước lãnh đạo, diễn ra sôi nổi trong cả nước và kéo dài hơn 10 năm từ 1885 đến 1896. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: Hương Khê (1885 - 1896) do Phan Đình Phùng và Cao Thắng lãnh đạo; Ba Đình (1886 - 1887) do Phạm Bành và Đinh Công Tráng đứng đầu; Bãi Sậy (1885 - 1889) do Nguyễn Thiên Thuật chỉ huy; cuộc nổi dậy ở Hưng Hóa (1885 - 1889) của Nguyễn Quang Bích, v.v. Cùng với đó là các cuộc đấu tranh tự phát của nhân dân các địa phương trung du miền núi, nổi bật nhất là khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo (1884 - 1913). Những cuộc khởi nghĩa đó đã thu hút đông đảo lực lượng quần chúng tham gia, tạo sức mạnh quật khởi trên địa bàn tương đối lớn, vận dụng nhiều cách đánh sáng tạo, phù hợp,… nên cũng giành được một số thắng lợi, nhưng cuối cùng vẫn bị dập tắt. Nguyên nhân bao trùm là do triều Nguyễn không thể đại diện, dẫn dắt dân tộc đứng lên chống lại sự xâm lăng của thực dân Pháp; các văn thân, sĩ phu hay các lãnh tụ nông dân với lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc nhưng không vượt qua hạn chế của giai cấp và thời đại nên chưa thể phát huy hết sức mạnh của dân tộc. Các cuộc khởi nghĩa diễn ra lẻ tẻ, lúc bùng lên nơi này, lúc rộ lên nơi khác, thiếu một sự liên kết chung, có quy mô trong cả nước, nên dù hết sức oanh liệt nhưng không đi đến thành công, mà “chỉ có thể dấy lên rồi tắt, chính vì thiếu lực lượng lãnh đạo đủ năng lực”1. Thực dân Pháp đã hoàn toàn bình định được đất nước Việt Nam, bắt tay vào thực hiện chương trình khai thác thuộc địa.

Thất bại của triều Nguyễn cũng như của các cuộc khởi nghĩa yêu nước nửa cuối thế kỷ XIX đã bộc lộ rõ sự lỗi thời, bất lực của ý thức hệ phong kiến, cũng như tình trạng khủng hoảng lãnh đạo, thiếu đường lối dẫn dắt để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Đây chính là bài học sâu sắc về vai trò lãnh đạo, về huy động sức mạnh toàn dân tộc cho sự nghiệp đấu tranh giữ nước. Phải đến khi Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước, con đường giải phóng dân tộc và thành lập nên Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam và của cả dân tộc, cách mạng nước ta mới thực sự chấm dứt sự khủng hoảng đường lối cứu nước kéo dài hàng chục năm. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã vùng lên đấu tranh, tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám (1945), giành lại độc lập tự do cho dân tộc.

Tuy nhiên, với bản chất tham lam, hiếu chiến, thực dân Pháp rắp tâm đưa dân tộc ta trở lại vòng nô lệ, tước đoạt thành quả mà phải bao tranh đấu, hy sinh dân tộc ta mới giành lại được. Vì vậy, sau hơn 80 năm kể từ khi quân Pháp nổ súng xâm lược, trên đất nước Việt Nam lại tiếp diễn cuộc đụng đầu giữa nhân dân ta và đế quốc Pháp. Nhưng khác với cuộc chiến nửa cuối thế kỷ XIX, lần này nhân dân Việt Nam không chỉ có lòng yêu nước mà còn có một Đảng cách mạng tiên phong, đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc lãnh đạo. Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng tái xâm lược Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ được sức mạnh của toàn dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến, quyết bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám, bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước Việt Nam.

Với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, thực hiện đường lối “kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài”, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc bước vào cuộc trường chinh máu lửa, ngăn chặn địch ở miền Nam, tiến hành hòa hoãn, phân hóa kẻ thù, củng cố lực lượng, đưa cả nước bước vào cuộc tranh đấu lâu dài với niềm tin tất thắng: “dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta”2. Qua 9 năm (1945 - 1954), vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, ra sức xây dựng, củng cố thực lực, quân và dân ta không ngừng phát triển thế tiến công, càng đánh càng mạnh, giành những thắng lợi to lớn trong các chiến dịch: Việt Bắc Thu - Đông (1947), Biên Giới (1950), Hòa Bình (1951), Đông Xuân (1951 - 1952), Tây Bắc (1952) và cuối cùng là cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân (1953 - 1954) với đỉnh cao là trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, làm nên thắng lợi “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn