“HAI DẤU MỐC TRONG CUỘC ĐỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ÔNG SÁU DÂN (THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VÕ VĂN KIỆT)”
“Dạ, tôi là Sáu Dân
Là tôi thưa với nghĩa ân tình người
Tôi thưa với nhân dân tôi
Thưa cùng đất nước muôn đời Việt Nam.”
Lời giới thiệu mộc mạc, chân tình ấy kể lại một câu chuyện về một con người “đấy là người con của quê hương Vũng Liêm, mọi người gọi tên là Sáu Dân. Dân đối với ông là Nhân Dân, là công dân; vừa là quyền vừa là nghĩa vụ với vùng đất, với quê hương xứ sở - nơi mà ông đã được sinh ra và lớn lên… Qua đó chúng ta thấy hình ảnh một Sáu Dân – nhà cách mạng, nhà lãnh đạo mang cốt cách Nam Bộ suốt một đời vì nước vì dân, có tầm nhìn xa trông rộng, bản lĩnh kiên cường, đổi mới sáng tạo.
Và tên ông đã được ghi vào lịch sử: Lịch sử được viết nên bởi những con người hành động, một lịch sử phi thường là kết quả của những hành động phi thường. Để hiểu cách Việt Nam chiến thắng được tham vọng bá quyền của cường quốc số một thế giới, bảo vệ độc lập tự do thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, để hiểu hành trình đưa đất nước thoát khỏi thảm họa của nền chính trị tồi tệ nhất thế kỷ XX, bước vào buổi bình minh của thời kỳ đổi mới, chúng ta không thể không hiểu về nhà lãnh đạo đặc biệt này.
Không ai có thể chiến thắng được thời gian nhưng chính thời gian sẽ đưa chúng ta đến những gốc nhìn sáng tỏ hơn, rõ ràng hơn về một con người – một trăm năm – một tầm nhìn – một trái tim - một khí phách – một di sản – một Võ Văn Kiệt – Sáu Dân!
Từ những lời giới thiệu chân chất, hay những lời nhận định sâu sắc từ bạn bè, đồng chí, đồng đội,… Thì ông Sáu Dân của chúng ta vẫn là nột con người rất “Người” với những tình cảm bình dị nhất. Như chính ông từng kể. “Cuộc đời tôi hồi nhỏ nó cũng cái lắt léo, khúc khuỷu lắm. Ông già bà già tôi sinh 5 anh trai, 2 chị gái, tôi là thứ tám, là út nên được gọi là Chín. Gia đình ông già bà già là tá điền ở Nam bộ, không có đất công điền, không có ruộng. Bà già tôi sinh ra tôi, trùng hợp với một người bà con xa khác xóm cũng sinh con. Do hoàn cảnh riêng nên họ nhờ bà già nuôi đứa con đó. Bà già ông già nhận về, nuôi 2 đứa. Ở trong ấp có một người bà con cùng họ, không có vợ, không có con, ông thấy vậy xin tôi về. Ông già nuôi của tôi cũng nghèo, nghèo rớt mùng tơi, làm ruộng mướn. Hồi nhỏ, ông già nuôi đưa tôi đi “bú thép” gần hết cái xóm ấy. Nhà ông bà già đẻ tôi cách đấy một cây số, ông già nuôi cũng cõng lên cõng xuống. Tôi lớn lên trong điều kiện như thế.”
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cơ cực nên từ nhỏ ông đã phải đi làm thuê, làm mướn, chăn trâu, ở đợ,… Và ông đã kể tiếp: “Đi ở cho người ta lúc bấy giờ không biết thù ghét này khác, mình lỡ lấy tiền của người ta rồi thì mình đi ở làm việc cho người ta.”
Trong hoàn cảnh cơ hàn ấy, hạt giống cách mạng ấy đã được bén duyên và ươm mầm. Ông kể “Tôi may mắn được gặp Đảng sớm. Đó là năm tôi vừa tròn 16 tuổi, lứa tuổi luôn cảm thấy tù túng giữa dòng kinh rạch chằng chịt quê hương Vũng Liêm (Vĩnh Long) của tôi. Nhiều năm sau nhớ lại, ngẫm suy, tôi luôn tự hỏi, rủi thời đó không gặp được những người Cộng sản đã mở đường cho tôi, thì cuộc đời tôi không biết sẽ rẽ theo hướng nào.”
Mười sáu tuổi, ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng; đến năm mười tám tuổi ông đã lãnh đạo cánh quân thứ ba tại khu vực Bắc Nước Xoáy trong cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ trên quê hương Vũng Liêm. Và giữa bao ký ức của một cuộc đời hiến dâng, hai câu chuyện dưới đây là những trang rực lửa nhất của cuộc đời hoạt động cách mạng của ông Sáu Dân.
1. Câu chuyện tuổi 18 tham gia Khởi nghĩa Nam Kỳ, ngọn lửa khởi đầu cuộc đời cách mạng
Ông gọi Khởi nghĩa Nam Kỳ là “may mắn thứ hai của cuộc đời tôi”. Mới 18 tuổi, ông đã phụ trách đánh đồn Bắc Nước Xoáy, một vị trí quan trọng của lực lượng khởi nghĩa đêm 22 rạng 23/11/1940.
Ông kể về khí thế năm ấy: “May mắn thứ hai của cuộc đời tôi là ở tuổi 18 tôi đã là chứng nhân của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, tôi là một người phụ trách đánh đồn Bắc Nước Xoáy đêm 22 tháng 11 năm 1940. Tôi đã nhìn thấy khí thế của anh em chúng tôi hồi đó, lạ lắm, lúc nào cũng bừng bừng! Nhưng ngay sau đó chúng tôi lại chứng kiến cảnh tàn sát dã man của kẻ thù đối với những người khởi nghĩa, những người Cộng sản và cảm tình với Cộng sản. Sự hy sinh này thật to lớn. Lần đầu tiên trong đời, tôi cảm nhận được nổi mất mát, đau thương mà kẻ ngoại xâm đã gieo xuống dân mình.”
Chiều 23/11, trên đường trở về làng, trước mắt ông là cảnh tượng không thể quên: “Làng ngút trời lửa đỏ. Đau quá! Nhìn thấy nhà bà con mình cháy mà không dám chữa và cũng không cách gì chữa nổi! Kẻ thù đã coi quê tôi là "Ổ Cộng sản!" Dân chúng nháo nhát, nhưng không ai trút nỗi đau cho những người Cộng sản. Ngược lại, họ dồn nỗi căm hận về phía kẻ thù”.
Những ngày sau đó càng trở nên khắc nghiệt hơn khi ông cùng với đồng chí, đồng đội phải chịu cái nắng gay gắt nhưng lửa đốt, còn phải chịu sự cồn cào của cái đói. Ông đã nhớ lại “Tôi nhớ năm đó, trời nắng ong ong, nắng hơn những năm trước đó. Mấy anh em chúng tôi nằm ém giữa cánh đồng lúa ba túc quê hương, chịu cái nắng rát bỏng hết ngày này qua ngày khác. Là người quen nắng mưa từ nhỏ, nhưng cái nắng mùa khô năm đó đã làm cho tôi mệt lử, có lúc tưởng kiệt sức không đứng dậy nổi. Nhưng không ngờ, cái đói lại càng đáng sợ hơn. Làng đó, quê hương đó, nhà chú Hai Chi đó mà không dám vô kiếm miếng cơm. Đành phải kéo gié lúa đang ngậm sữa xuống nhai. Nhai rát lưỡi rồi bứt cỏ mật ăn, ăn ngon lành.”
Đến khi vào vụ mùa, lúa ngoài đồng chín; ông lo lắng rằng bà con thu hoạch lúa thì số phận của ông cùng đồng chí, đồng đội của mình không biết sẽ ra sao. Nhưng rồi: “Chính vào lúc đó chị Năm Hồng liên lạc được với chúng tôi. Và cũng từ đó chúng tôi tìm đường về Cà Mau. Tới Cà Mau bị ruồng, bị bố! Một lần nữa những người Cộng sản trung kiên bị bắt, bị tử hình, bị tù đày. Số còn sống sót tìm đường chạy về Rạch Giá! Rồi Rạch Giá lại bị bể bạc, anh chị em lại chạy về Cà Mau!!!”
Qua những lần bị vây ráp, tù đày, chạy loạn, ý chí của người thanh niên Sáu Dân càng thêm sắt đá. Từ Khởi nghĩa Nam Kỳ, ông bước ra với một lòng tin lớn: cách mạng là con đường duy nhất dẫn quê hương thoát cảnh lầm than.
2. Câu chuyện chuyến về thời chống Mỹ của ông Sáu Dân bằng con Tàu Không Số trên biển
Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris – Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam do 4 bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa ký kết tại Paris.
Ngày 02/02/1973, Gần một tuần sau khi Hiệp định Paris được ký, tận mắt chứng kiến những vi phạm Hiệp định của Mỹ ngụy, ông triệu tập hội nghị Thường vụ Khu ủy mở rộng, xác định “Không mơ hồ ảo tưởng” và nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công bằng sức mạnh quân sự, chính trị, binh vận, pháp lý để trừng trị địch vi phạm Hiệp định Pari để giành đất, giành dân, giành quyền làm chủ.
Mệnh lệnh tối cao lúc này là phải giữ đất, giữ dân. Ông Sáu Dân và Thường vụ Khu ủy ra lệnh Binh vận Khu không phổ biến chủ trương “Năm cấm chỉ” của Binh vận miền đó là: Cấm tấn công địch, Cấm đánh địch đi càn quét, Cấm bắn pháo vào đồn địch, Cấm bao vây đồn bốt, Cấm xây dựng ấp xã chiến đấu.
Đồng chí Võ Văn Kiệt đánh điện cho Bộ Chính trị xin được giữ vững chủ trương đánh địch bình định, bức điện nói rõ: “Nếu không đánh địch bình định lấn chiếm, mất đất, mất dân là mất tất cả”
Ông Lê Đức Anh kể: “Anh Kiệt lúc đó là chỗ dựa cho các quyết định của chúng tôi”.
Với tinh thần này, quân và dân Khu 9 đã đánh bại cuộc tiến công lấn chiếm của địch với 75 lượt tiểu đoàn ở Chương Thiện. Từ đó kế hoạch bình định lấn chiếm U Minh và vùng Nam Cà Mau của địch cũng bị phá sản.
“Sau khi ký Hiệp định Paris, đa số ý kiến ta là chỉ biết đơn phương chấp hành hiệp định, cho quân nghỉ ngơi theo phương châm “ghìm quân vỗ béo”. Trong khi đó thì đối phương chủ trương ra sức lấn chiếm đất đai theo phương châm “tràn ngập lãnh thổ”. Là người đã từng trải với chiến trường Nam Bộ, Ông Võ Văn Kiệt thấy nếu như vậy sẽ mất dần mất mòn những thành quả của cuộc cách mạng và kháng chiến”. Chính vì thế, lúc này tại Khu 9 đồng chí Võ Văn Kiệt và đồng chí Lê Đức Anh đã chống lại chỉ thị của Trung ương.
Vì thế, tháng 4/1973, Trung ương đã mời Ông ra ngoài đấy để dự họp bàn về đường lối chủ trương, về Cách mạng Miền Nam trong giai đoạn mới, sau khi có Hiệp định Paris.
Tại Hội nghị, sau khi nghe ông Sáu Dân báo cáo kinh nghiệm của Quân Khu 9 thì Tổng Bí thư Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng Tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng đã đồng tình và đánh giá cao. Từ đó, ban hành Nghị quyết 21 giao cho cách mạng miền Nam trên cả ba mặt trận: Chính trị, Quân sự, Ngoại giao. Bản báo cáo của Khu 9 đã được chọn để làm kiểu mẫu, chủ trương chung và đề nghị phổ biến rộng rãi cho các chiến trường miền Nam.
Để chúng ta thấy được rằng người thanh niên mà chúng ta vừa nhắc đến ở đầu bài viết, người thanh niên với khi chất Nam bộ, phóng khoáng, lạc quan, nghĩa hiệp, yêu tự do, chuộng hòa bình. Sau khi được gặp tư tưởng Hồ Chí Minh, được gặp những người như đồng chí Lê Duẩn, được trui rèn trong Cách mạng, trong chiến tranh đã trở thành một con người rất kiên cường, rất bản lĩnh và rất dũng cảm, ông đã góp phần đề ra nghị quyết số 21, tạo đà cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 đi đến giành thắng lợi.
Và trong giai đoạn này, ông đã đi từ Bắc vào Nam bằng con Tàu Không Số trên đường Hồ Chí Minh trên biển. Và chuyến đi này được gọi là “Chuyến về thời chống Mỹ của ông Sáu Dân”
Theo lời kể của Ông Sáu Dân: “Bộ Chính trị họp xong với các quân khu, tôi thấy tình thế đòi hỏi quá cấp bách. Phải giữ đất, giữ dân hàng ngày với địch và khu tôi phụ trách ở xa nhất nên tôi tranh thủ xin được về bằng đường biển để rút ngắn phân nửa thời gian so với lúc đi ra… Đúng một tuần sau tôi đã có mặt ở Khu Tây Nam Bộ. Chuyến đi được xem là khá căng thẳng bằng mưu trí chứ không phải bằng đấu lực và càng không bằng vũ khí…”
Tháng 8/1973, Ông trở về Khu 9 bằng đường biển trên Tàu Không Số để kịp phổ biến Nghị quyết 21 và vạch kế hoạch thực hiện.
Trung ương đã chỉ định ông Tư Mau – một vị thuyền trưởng dày dặn kinh nghiệm đi biển nhất của Khu 9 lên kế hoạch tổ chức cho chuyến đi này. Vậy là 03 chiếc tàu Không số đã chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi vượt biển vào Nam, trong đó có 02 chiếc chở vũ khí, chiếc còn lại chở Bí thư Khu ủy miền Tây Nam Bộ Võ Văn Kiệt.
Chiếc tàu chở ông Võ Văn Kiệt mang bí số 159 TT (TT nghĩa là Thương thuyền) tức đi công khai. Lúc này, ông Võ Văn Kiệt đóng vai trò là thương nhân sang trọng của công ty Ngư Long, chuyên buôn bán muối, có đủ giấy tờ do chính quyền Sài Gòn cấp, đương nhiên thì đây chỉ là giấy giả, cùng đi với ông còn có một người của Ngân hàng trung ương mang theo 3 triệu đô la Mỹ - cũng là hàng chi viện cho miền Nam. Với tài năng am hiểu đường biển của thuyền trưởng Tư Mau, con tàu chở muối của vị thương nhân Võ Văn Kiệt, sau 4 ngày đi từ cảng Hải Phòng đã về tới Cà Mau an toàn.
Kết nối hôm nay
Từ tuổi thơ thiếu thốn phải đi “bú thép”, từ những trận đói trên đồng lúa cháy nắng, từ cảnh làng quê ngút lửa đến giây phút gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, rồi đến những khoảng thời gian vượt biển trên con Tàu Không Số có thể phải đánh đổi cả mạng sống trong chuyến đi này tất cả hợp lại thành chân dung một con người “khẳng khái, phóng khoáng, nghĩa hiệp, tinh tế, dí dỏm”, như nhà văn Trương Dương Vũ đã nói: : “là người miền Tây anh phóng khoáng như bầu trời xanh thẳng tắp không một cụm núi, ngọn đồi ngăn trở. Anh rộng rãi như cánh đồng bát ngát ngút mắt nhìn, đơn giản như màu xanh duy nhất của lúa”.
Hai câu chuyện rực lửa ấy của ông Sáu Dân đã góp phần hun đúc cho cậu thanh niên Phan Văn Hòa trở thành một người chiến sĩ cách mạng kiên cường, trở thành một Thủ tướng Chính phủ tài ba đã lèo lái con thuyền cách mạng đưa đất nước ta từng bước vượt qua khúc quanh lịch sử và từng bước hội nhập vào trường quốc tế. Qua đó, để lại bài học lớn cho thế hệ trẻ hôm nay: Kiên cường trước thử thách - giữ lòng tin vào dân - dấn thân vì Tổ quốc.
Đó cũng chính là tinh thần mà Đề án “Câu chuyện thời hoa lửa” mong muốn truyền lại cho mỗi đoàn viên thanh niên.



