HAI LẦN BỊ BẮT TÙ ĐÀY VẪN MỘT LÒNG THEO CÁCH MẠNG - Viết về Mẹ VNAH Nguyễn Thị Hai
Mẹ Nguyễn Thị Hai, sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo ở ấp Hòa Thuận xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách, Tỉnh Bến Tre. Lớn lên lập gia đình, bên chồng cũng nghèo. Sau khi cưới, hai bên gia đình cho đôi vợ chồng trẻ của Mẹ ra riêng với một căn chòi nhỏ và hai công đất ruộng ở cặp bờ sông Cổ Chiên, thuộc ấp Phụng Châu, xã Sơn Định, huyện Chợ Lách.
Cuộc sống nghèo túng lại đông con (Mẹ có tất cả 9 người con) nên các con của Mẹ học hành không được bao nhiêu. Hàng ngày phải vất vả, tảo tần chạy lo cho các con có cái ăn, cái mặc là một gánh nặng trên vai của người phụ nữ vùng sâu sông nước. Mặc dù hoàn cảnh khó khăn nhưng ở người phụ nữ ấy là cả một sự hy sinh thầm lặng và cao cả. Hết lòng lo cho chồng, cho con, dù gian lao cực khổ nhưng vẫn một lòng theo cách mạng.
Nơi gia đình Mẹ sinh sống là một nơi gần như bị chia cách bởi nhiều con rạch và những “cây cầu khỉ”, một vùng đất mà quanh năm bị nước lũ bao vây. Và cứ hàng năm thì phần đất của gia đình Mẹ bị giảm đi do con sông Cổ Chiên làm xoáy mòn vào những mùa gió Tây Nam.
Nhưng cũng chính nơi đây lại là “điểm” của cán bộ cách mạng thường xuyên qua lại hoạt động. Thấy gia đình Mẹ có tinh thần yêu nước nên năm 1954, tổ chức đã vận động chồng Mẹ là ông Hồ Văn Đực tham gia cách mạng với nhiệm vụ là giao liên nội bộ.
Thấy nhà Mẹ ở nơi hẻo lánh, bọn lính đi tuần trên sông Cổ Chiên nghi ngờ là nơi tiếp tế và nuôi giấu cách mạng nên chúng đến xét nhà và bắt chồng Mẹ đem về Chi khu Chợ Lách tra khảo. Sau đó chúng đem giam Ông ở khám lớn Vĩnh Long, bọn địch tra tấn rất dã man nhưng không khai thác được gì ở Ông, bọn chúng buộc phải thả Ông về.
Khi trở về nhà Ông lại tiếp tục làm giao liên cho cách mạng. Năm 1967, sau khi bàn bạc thống nhất với tổ chức và chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968, Mẹ đã cho người con trai lớn là: Hồ Văn Mẫm, sinh năm 1943 thoát ly theo cách mạng ở Tiểu đoàn 516 thuộc Tỉnh đội Bến Tre. Năm 1968, trong cuộc tiến công đánh vào bót Ngãi Đăng, huyện Mỏ Cày Nam, anh Mẫm đã anh dũng hy sinh lúc đó cấp bậc Thượng Sĩ.
Nhận được tin con hy sinh, Mẹ cố nén nỗi đau vào lòng. Cuộc sống ở một vùng ven sông nước mênh mông, cảnh vật đìu hiu, nhà thì lại nghèo, một mình Mẹ ôm những đứa con thơ dại, hàng ngày phải tảo tần lo toan và chống chọi với cái khắc nghiệt của cuộc sống nhưng Mẹ vẫn cố gắng vượt qua, chắt chiu từng nảy chuối, củ khoai để lo cho các con và cán bộ.
Vậy là một lần nữa Mẹ lại tiễn con đi, nhưng lần này có hai đứa con trai và cả chồng của Mẹ. Sau khi thoát ly, ông Hồ Văn Đực công tác ở Quân Khu 9. Anh Hồ Văn Tích, sinh năm 1947 về công tác ở Tổ bảo vệ Thường vụ Huyện ủy Chợ Lách. Năm 1971, trong chuyến công tác ở huyện Mỏ Cày, anh Hồ Văn Tích bị địch bắn hy sinh. Anh Hồ Văn Ửng, sinh năm 1952 công tác tổ trinh sát địa phương quân huyện Chợ Lách sau đó chuyển sang Công an huyện.
Năm 1970, biết gia đình Mẹ có nhiều người tham gia cách mạng, bọn lính ở Chi khu Chợ Lách đến xét nhà và bắt Mẹ đem giam ở Khám Lớn Vĩnh Long 6 tháng. Qua một thời gian tra khảo, bọn chúng không khai thác được gì, buộc phải thả Mẹ về.
Năm 1972, trong một lần Mẹ đi tiếp tế cho cách mạng và thăm chồng ở kinh 14 thuộc xã Ngũ Hiệp, quận Cai Lậy. Trên đường về đụng phải bọn lính đi càn, chúng tịch thu chiếc xuồng và máy Ko-Le (Koler) 4 của Mẹ. Lúc về đến nhà, Mẹ bị chủ xuồng máy đòi, Mẹ phải lo chạy nợ để bồi thường vì đây là xuồng, máy mượn (giá trị chiếc xuồng lẫn máy lúc đó gần chục cây vàng).
Bọn lính Chi khu Chợ Lách biết được chuyện này, chúng kéo đến xét nhà bắt Mẹ đem giam ở Khám Lớn Vĩnh Long một lần nữa vì tội tiếp tế, nuôi giấu Việt Cộng.
Dù nhiều lần bị tù đày, tra tấn có lúc tưởng chừng Mẹ không qua nổi nhưng Mẹ vẫn cố gắng chịu đựng. Không khai thác được gì ở Mẹ, một lần nữa địch phải thả Mẹ về.
Khi ra tù sức khỏe của Mẹ giảm đi nhiều nhưng Mẹ vẫn tiếp tục hoạt động, tiếp tế lương thực, thuốc men cho cách mạng, Mẹ nghĩ: chồng, con mình tham gia cách mạng, mình tiếp tế cho cách mạng là tiếp tế cho chồng con mình chớ có mất gì đâu!
Chồng, con đã thoát ly, ở nhà Mẹ luôn là nơi liên lạc và là cơ sở nuôi giấu cán bộ. Gia đình Mẹ tuy nghèo nhưng khi anh em đến công tác thì có gì Mẹ đều đem ra mời dùng lúc thì cơm cháo, muối dưa, lúc thì con cá bắt được trên sông... nhưng ấm tình đồng bào, đồng chí. Nhiều cán bộ đã từng công tác ở qua nhà Mẹ họ rất mến và quý Mẹ. Cuộc sống của Mẹ theo thời gian cứ mãi trôi qua. Ngày hòa bình lập lại, năm 2005, Mẹ mất sau một cơn bạo bệnh, hưởng thọ 83 tuổi.
Ngày 16 tháng 12 năm 2014, Mẹ danh dự được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý "Bà Mẹ Việt Nam anh hùng".



