Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

HAI LẦN TÔI ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ

Đoạn hồi ký kể về tuổi thơ nghèo khó của tác giả tại ngõ Phất Lộc, Hà Nội, mồ côi mẹ từ sớm và lớn lên trong mặc cảm “số phận nghèo”. Hình ảnh sao Bắc Đẩu – ngôi sao chỉ đường – trở thành ước mơ và biểu tượng soi sáng cuộc đời ông. Từ một cậu bé phải bỏ học đi làm thợ điện, ông giác ngộ cách mạng, tham gia lực lượng tự vệ và sau đó trở thành cán bộ trong quân đội. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước theo lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, ông được dự hội nghị tại Hội trường Ba Đình và vinh d

Lai Châu27/02/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ước mơ về ông sao Bắc Đẩu.

Tôi sinh ra trong một ngõ hẻm, nghèo ở Hà Nội - ngõ Phất Lộc (nay thuộc quận Hoàn Kiếm). Ra khỏi ngõ đã thấy ngay một cái cột to bằng thép, trên đỉnh cột là chiếc đồng hồ tròn to tướng, ngày xưa nhân dân quen gọi khu vực đó là “Cột Đồng Hồ” (nay là khu vực vượt chân cầu Chương Dương).

Lúc còn nhỏ, mỗi lần ra khỏi nhà, ai gặp tôi cũng trêu, gọi tôi là “Rồng Đất”, vì tôi tuổi Thìn còn Đất là do ông, bà, bố mẹ tôi đều là những người nghèo trong cái ngõ nghèo khó ấy.

Mẹ tôi chết sớm, tôi ở với bà nội. Thương tôi mồ côi nên bà rất yêu tôi. Tôi suốt ngày quanh quẩn bên bà nội hỏi đủ thứ... Có lần tôi hỏi: Bà ơi! Tại sao nghèo lại thành “Rồng đất"?

- Cháu ơi! đó là tại số cả.

- Thế số là cái gì?

- Bà không biết, nhưng ông bà nghèo, bố mẹ cháu cũng nghèo, nên cháu cũng sẽ nghèo, thế gọi là cái số. Tôi chẳng hiểu ra sao chỉ ôm bà nội khóc, bà cũng khóc.

Vào những đêm có trăng sao, bà nội dẫn ra bờ đê sông Hồng để hóng mát. Nhìn lên bầu trời đầy sao lấp lánh tôi thấy có một ông sao sáng nhất. Lần nào bà nội dắt tôi ra bờ đê tôi vẫn nhìn thấy ông sao ấy.

Tôi hỏi bà nội:

- Bà ơi, cái ông sao sáng nhất kia là ông gì thế?

- Người ta nói đấy là ông sao tên là Bắc Đẩu, ông ở một chỗ để chỉ đường cho những người đi đêm khỏi lạc lối. Rồi bà tôi kể biết bao nhiêu chuyện cổ tích về sao Bắc Đẩu. Tôi thấy ông tiên Bắc Đẩu tốt thế, nên nói:

- Bà ơi, lớn lên cháu sẽ đi tìm ông Bắc Đẩu.

Tuổi thơ của tôi, với bao nhiêu mơ ước về ông sao Bắc Đẩu, âm thầm, lặng lẽ trôi đi bên bờ sông Nhị Hà như thế. . .

Năm 1943, tôi đã ở tuổi 15, đang học dở dang bậc thành chung (trung học cơ sở ngày nay) thì phải bỏ học, vì nhà quá nghèo. Tôi đi làm thợ điện và bước vào cuộc đời tự kiếm sống. Thế là bao ước mơ đẹp đẽ tan vỡ. Đêm đêm, tôi nằm ôm mặt khóc thầm, thương mình vì cái số phận của người nghèo nhưng quyết không phải là người hèn.

Tuy mới 15 tuổi đầu, nhưng tôi đã nếm trải biết bao cay đắng của cuộc đời người thợ và thấy bao điều tủi nhục, đau khổ của kiếp người nô lệ. Vào một ngày năm 1944, tôi gặp bạn học cũ, anh Lê Thảo, anh còn có bí danh là Lê Chiêu (hiện nay anh Lê Chiêu là Thiếu tướng Quân đội nhân dân đang nghỉ hưu ở số nhà 16A phố Lý Nam Đế - Hà Nội. Anh hoạt động cách mạng từ năm 1940). Từ đấy tôi đứng trong hàng ngũ những người cách mạng ở Hà Nội. Tôi chợt nhận ra, mình đã đứng trong vòng cung ánh sáng rực rỡ của sao Bắc Đẩu, mà tôi hằng mơ ước tìm gặp từ thuở ấu thơ.

Tôi trở thành đội trưởng một đội tự vệ chiến đấu. Đó là một tổ chức bán vũ trang bí mật dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tổ chức được hình thành ở nhiều nơi, cả ngoại thành và trong nội thành.

Sau khi Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội (19-8-1945) thắng lợi, những thanh niên công nhân, học sinh Hà Nội yêu nước, đứng trong tổ chức tự vệ chiến đấu, được tổ chức lại thành các đơn vị Giải phóng quân Hà Nội dưới sự chỉ huy chung của ông Vương Thừa Vũ, còn chỉ huy trực tiếp Chi đội chúng tôi là anh Lê Chiêu (lúc đó gọi là Chi đội Lê Chiêu).

Sáng ngày 1-9-1945, anh Lê Chiêu, chi đội trưởng nói với tôi: “Này Xuân, ngày mai cậu chỉ huy tiểu đội ra gác dưới chân Kỳ đài, nơi Chính phủ Lâm thời ra mắt Quốc dân, còn tiểu đội của Tường Kính, bố trí phía sau Kỳ đài, gần nơi còn quân Nhật đóng quân”.

Ngày 2-9-1945 tôi không thể nhớ nổi là chúng tôi ra gác rồi nhân dân mới kéo đến, hay nhân dân đã đến đông cùng lúc chúng tôi ra gác quanh Kỳ đài... Tôi chỉ còn hình dung như đang nhìn thấy nhân dân Hà Nội, mặc những bộ quần áo đẹp đứng đông nghìn nghịt cùng rừng cờ to, nhỏ đủ loại đỏ rực cả quảng trường. Tôi hiểu để bảo vệ an ninh cho ngày Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 có biết bao lực lượng vũ trang, an ninh đã tham gia.

Song ngày nay nhìn vào tấm ảnh lịch sử ấy, thấy rất rõ ở chân Kỳ đài sát phông vải có một người mặc dân sự cầm súng ngắn, đứng trước người thanh niên ấy là tôi và các đồng đội của tôi quanh Kỳ đài, chúng tôi mặc áo sơ mi cộc tay, quần sóc, đội mũ cát, cầm súng trường đứng gác - Đó là tiểu đội Giải phóng quân Hà Nội thuộc Chi đội Lê Chiêu. Khi chiếc xe Ô tô con màu đen đến, Chính phủ Lâm thời đã lên Kỳ đài, cả quảng trường vang rền tiếng:

- Hoan hô... Hoan hô...

Tôi cầm chặt khẩu súng trường trong tay, ngửa cổ lên nhìn xem “ông Chủ tịch” là ai, tôi tưởng tượng chắc phải là một người dáng to lớn, quắc thước. . . Nhưng lạ quá, Chủ tịch của cả một nước sao lại thấy giản dị, bình thường như mọi ông già bình thường tôi vẫn gặp. Bộ râu đen, lại giống các cụ già nông thôn quê tôi, mặc áo rất bình thường so với nhiều người khá giả Hà Nội hồi đó. Cụ Chủ tịch lại đội chiếc mũ “cát” chả đẹp gì hơn mũ chúng tôi đội, đang đứng gác. Cụ có đôi mắt sáng kỳ lạ, giọng nói hiền từ ấm áp thu hút tâm trí tôi. . .

Tôi đọc sách có nói “ Cái thần của con người toát ra ở đôi mắt”, phải chăng đôi mắt kia toát ra cái thần của một vĩ nhân. Tất cả cái đó tạo cho tôi một cảm giác quen thuộc, quý mến và yêu thương... Khi giọng nói miền Trung ấm áp của Bác cất lên: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được...”. Tôi thấy người bừng bừng khó tả, có những cái gì đó ở trong lồng ngực muốn tung ra.

Cuộc mít tinh của hơn 50 vạn nhân dân Thủ đô kết thúc, gặp anh Lê Chiêu tôi hỏi: “Cụ Chủ tịch Hồ Chí Minh là ai thế”’. Anh Chiêu cười ôm vai tôi nói: “Cậu chưa hiểu à, cụ Nguyễn ái Quốc đấy”. Tôi buột miệng nói: “Thế mà tôi không biết”, trong óc tôi lóe lên ý nghĩ: Ôi, tôi đã tìm thấy ông sao Bắc Đẩu rồi! Từ ngày ấy câu nói kết thúc của Bác Hồ trong lần tôi vinh dự thấy lần đầu tiên ấy vang lên mãi trong tôi:

“Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập” đã đi cùng tôi suốt cả cuộc đời, từ những trận chiến đấu đầu tiên ở Hà Nội, ngày Toàn quốc kháng chiến, đến trận đánh cuối cùng đêm ngày 6-5 ở Điện Biên Phủ, tới chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975.

Một kỷ vật quý giá nhất đời tôi.

Mỗi người trong đời mình có biết bao kỷ niệm và biết bao kỷ vật, song đối với tôi cài rất quý lại chính là huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” nhỏ bé, xinh xinh... Ngày ấy cách đây đã tròn 50 năm, đơn vị tôi Tiểu đoàn 439 thuộc Trung đoàn 98, Đại đoàn 316, chiến đấu liên tục 55 ngày đêm ở Điện Biên Phủ, những địa danh: đồi Tà Lựng, Đồi Xanh, đồi C1, đồi Châu Ùn (C2) gắn liền với những trận đánh ác liệt, đẫm máu của tiểu đoàn ở khu đông Điện Biên Phủ.

Sau chiến thắng, tôi cùng nhiều cán bộ, chiến sĩ được đại diện cho Trung đoàn lên Mường Phăng dự lễ mừng chiến thắng.

Trong buổi lễ Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, kiêm Tư lệnh chiến dịch tuyên bố. “Bác Hồ tặng mỗi cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch một huy hiệu, mang tên chiến sĩ Điện Biên Phủ”. . Tất cả hoan hô vang dậy, còn tôi thì vô cùng sung sướng được có một kỷ vật quý giá của Bác cho. Trải qua 50 năm, tôi vẫn cất giữ chiếc huy hiệu, như một báu vật của đời mình bên cạnh huy hiệu “Chiến dịch Hồ Chí Minh”.

Chấp hành mệnh lệnh của Bác, lính xe tăng lên đường.

Sau khi học trường chỉ huy, kỹ thuật xe tăng ở Liên Xô về nước, năm 1964, tôi nhận nhiệm vụ chính ủy ở Trung đoàn 202, đơn vị xe tăng đầu tiên của quân đội ta. Thời gian này tình hình trên đất nước ta có những diễn biến mới phức tạp.

Đế quốc Mỹ âm mưu mở rộng chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam tháng 7-1964, tàu chiến Mỹ thuộc Hạm đội 7, nhiều lần xâm phạm vào vùng biển nước ta, chúng bắn phá các đảo Hòn Ngư (Nghệ Tĩnh), Hòn Mê (Thanh Hóa). Chúng dựng nên “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” rồi ngày 5-8-1964 dùng không quân ném bom, bắn phá vào nhiều khu vực trên miền Bắc: Sông Gianh (Quảng Bình), Cửa Hội (Thành phố Vinh), Lạch Trường (Thanh Hóa), Bãi Cháy (Quảng Ninh), mở đầu cho kế hoạch sử dụng không quân, hải quân đánh phá trên toàn miền Bắc Tổ quốc ta. Nhân dân ta đánh trả quyết liệt, bắn rơi 8 máy bay Mỹ. Tên tù binh Mỹ đầu tiên, trung úy An-va-rát-đô bị bắt sống ở Hòn Gai.

Trên chiến trường miền Nam Việt Nam, Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược. Từ tháng 7-1965 quân viễn chinh Mỹ và quân chư hầu ồ ạt đổ vào, đến tháng 9-1965 lực lượng quân đội Mỹ và chư hầu ở miền Nam đã lên tới 20 vạn tên, chúng trực tiếp tiến hành chiến tranh cục bộ ở miền Nam.

Đất nước ta từ tình hình một nửa nước có chiến tranh, một nửa nước có hòa bình đã chuyển sang cục diện mới, rất nghiêm trọng: “Cả nước có chiến tranh”. . Tháng 4-1965, tại kỳ họp Quốc hội khóa III, Bác Hồ đã kêu gọi cả nước: ‘Lúc này chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của mọi người Việt Nam yêu nước. Tất cả chúng ta hãy đoàn kết triệu người như một quyết tâm thắng giặc Mỹ xâm lược”.

Đó là lời của Non sông kêu gọi con cháu dòng giống Lạc - Hồng đứng lên cứu nước. Toàn dân Việt Nam đã đứng lên, cả nước cuồn cuộn cao trào đánh Mỹ cứu nước.

Thời gian cả nước sục sôi khí thế đánh Mỹ, lực lượng xe tăng chưa có điều kiện lên đường, toàn Trung đoàn hừng hực khí thế đánh giặc và làm đơn tình nguyện xin đi đánh Mỹ. Nhiều cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên đã được chọn lọc và cử lên đường vào Nam, đánh Mỹ cướp xe tăng của giặc để tổ chức thành các đơn vị xe tăng ở miền Nam.

Nhiều cán bộ học tập xe tăng ở Liên Xô, Trung Quốc tiếp tục được bổ sung về Trung đoàn 202 liên tục trong hai năm 1964 - 1965, đó chính là sự chuẩn bị điều kiện xây dựng và phát triển Bộ đội xe tàng, nhằm đáp ứng đòi hỏi của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Kế hoạch ấy đã được Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh chuẩn bị từ trước. Cũng trong năm 1965 ấy, trung đoàn nhận chiến sĩ mới, thế là một trung đoàn xe tăng thứ hai (sau này có quyết định chính thức là Trung đoàn 203), với đầy đủ cán bộ, chiến sĩ để bước vào huấn luyện.

Vào năm 1965 sôi động ấy, tôi được triệu tập đi dự Hội nghị tổng kết Cuộc vận động xây dựng Chi bộ 4 tốt và đảng viên 4 tốt toàn miền Bắc do Ban Bí thư Trung ương triệu tập. Hội nghị họp ở Hội trường Ba Đình. Một hôm đồng chí Lê Đức Thọ, ủy viên Bộ Chính trị, người chủ trì Hội nghị tuyên bố “Bác đến thăm Hội nghị”. Cả hội trường đứng dậy hoan hô. Không biết có phải tôi chủ quan hay không, lúc đấy tôi cảm thấy đại biểu các Đảng bộ trong quân đội hoan hô to nhất.

Tất cả yên lặng, lắng nghe như nuốt lấy từng lời của Bác. Bác mặc bộ quần áo lụa màu nâu, miền Bắc gọi là quần áo cánh, còn trong Nam gọi là quần áo bà ba. Ngắm nhìn Bác thấy sao Bác giản dị thế, gần gũi thế. Trông Bác tôi có cảm giác như một cụ già Việt Nam hiền từ, nhân hậu đến với con cháu trong gia đình. Tôi chưa bao giờ được nghe nói có một nguyên thủ quốc gia đến một cuộc họp long trọng mà lại mặc rất đỗi bình dân nhưng lại rất đặc biệt, rất Việt Nam như vậy. Tôi tự lý giải bởi vì Bác là Cha Già của dân tộc, người Cha kính yêu của lực lượng vũ trang nhân dân. Bởi vì Bác là Hồ Chí Minh.

Điều bất ngờ nhất ngoài mong muốn của tôi, khi đồng chí Lê Đức Thọ tuyên bố. các đại biểu quân đội ra chụp ảnh với Bác. Viết đến dòng này, tôi nhìn lên tấm ảnh chụp với Bác Hồ trước Hội trường Ba Đình năm ấy, tôi chợt phát hiện ra một sự ngẫu nhiên, trùng hợp lịch sử Tôi nhớ lại: Ngày 1-9-1945 anh Lê Chiêu vừa là bạn, vừa là người chỉ huy bảo tôi:’ “Xuân ơi! Ngày mai tiểu đội của cậu ra gác trước chân Kỳ đài” và lần chụp ảnh này, anh Lê Chiêu đã là đại tá, Cục trưởng Cục Tổ chức, Tổng cục Chính trị, cũng tham dự Hội nghị. Hôm đó anh lại nói với tôi: “Xuân ơi! Mau lên, ta ra đứng gần Bác để chụp ảnh”. Nhưng tôi nghĩ rằng công lao, thành tích của mình còn quá ít, nên tôi đứng lui về phía sau Bác...

Nhân kỷ niệm ngày sinh của Bác, ngồi viết những dòng này, tôi bâng khuâng nhớ Bác. Tôi nhớ đến cái ngày Bác đi xa cái ngày mà …Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa “ (Thơ Tố Hữu) Thời gian ấy tôi đang giữ trách nhiệm Chủ nhiệm Chính trị Binh chủng Tăng - Thiết giáp. Lúc Bác bệnh đã rất nặng, khó qua khỏi. Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị ra chỉ thị: Các cơ quan Chính trị toàn quân, phải tổ chức thường trực 24/24 để đón chỉ thị. Nếu thông báo “Ai đã đi xa” là Bác đã mất phải thông báo kịp thời cho các Đảng ủy trong Đảng bộ mình.

Hôm đó vào sẩm tối, tôi đang làm việc ở nơi sơ tán (thôn Lan Đình, xã Kim Long, huyện Tam Dương, Vĩnh Phúc), đồng chí thượng úy trực ban đến báo cáo:

“Thông báo của trên “Ai đã đi xa”. Vừa nghe xong, tôi không thể kìm nổi mình, ôm lấy mặt, gục đầu xuống bàn khóc nức nở...

Tôi không thể nhớ là mình khóc đã bao lâu, nhưng khi ngẩng đầu lên vẫn thấy đồng chí trực ban đứng đó ngơ ngác... Tôi nói qua tiếng nấc: “Báo tin ngay đi các nơi: Bác Hồ của chúng ta đã mất”.

Lúc đó đồng chí trực ban cũng òa khóc, vừa chạy vừa gọi to: Bác... ơi, Bác... ơi! .

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
HAI LẦN TÔI ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ | Câu chuyện thời hoa lửa