HẢI LĂNG NGÀY 19-3-1975: KHI PHẦN ĐẤT CUỐI CÙNG CỦA QUẢNG TRỊ ĐƯỢC GIẢI PHÓNG
Giữa những ngày tháng Ba năm 1975, khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân đang làm rung chuyển chiến trường miền Nam, tại Hải Lăng, quân và dân Quảng Trị bước vào những trận chiến quyết định để giành lại phần đất quê hương còn nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn. Đến khoảng 18 giờ ngày 19-3-1975, Hải Lăng được giải phóng, đánh dấu sự kiện toàn tỉnh Quảng Trị hoàn toàn giải phóng, mở thêm một hướng thuận lợi cho cuộc tiến công vào Thừa Thiên - Huế. Đằng sau thời khắc lịch sử ấy là những năm tháng kiên cường bám đất, giữ làng và sự hy sinh thầm lặng của biết bao người dân nơi tuyến lửa
HẢI LĂNG NGÀY 19-3-1975: KHI PHẦN ĐẤT CUỐI CÙNG CỦA QUẢNG TRỊ ĐƯỢC GIẢI PHÓNG
Giữa những ngày tháng Ba năm 1975, khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân đang làm rung chuyển chiến trường miền Nam, tại Hải Lăng, quân và dân Quảng Trị bước vào những trận chiến quyết định để giành lại phần đất quê hương còn nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn. Đến khoảng 18 giờ ngày 19-3-1975, Hải Lăng được giải phóng, đánh dấu sự kiện toàn tỉnh Quảng Trị hoàn toàn giải phóng, mở thêm một hướng thuận lợi cho cuộc tiến công vào Thừa Thiên - Huế. Đằng sau thời khắc lịch sử ấy là những năm tháng kiên cường bám đất, giữ làng và sự hy sinh thầm lặng của biết bao người dân nơi tuyến lửa.
Mảnh đất cuối cùng trên tuyến lửa Quảng Trị
Trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quảng Trị là một trong những chiến trường khốc liệt nhất. Nằm ở vị trí chiến lược quan trọng, có giới tuyến quân sự tạm thời tại vĩ tuyến 17 chạy qua, vùng đất này chứng kiến nhiều cuộc đụng độ quyết liệt và những biến động quân sự lớn trong suốt hai thập niên.
Ngày 1-5-1972, quân giải phóng làm chủ tỉnh Quảng Trị, ghi dấu một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược. Tuy nhiên, chiến sự không dừng lại ở đó. Sau những cuộc phản công và tái chiếm của quân đội Việt Nam Cộng hòa, đặc biệt trong cuộc chiến đấu kéo dài 81 ngày đêm tại Thành cổ Quảng Trị, một phần lãnh thổ phía nam tỉnh lại trở thành khu vực tranh chấp và nằm dưới sự kiểm soát của đối phương.
Sau Hiệp định Paris ngày 27-1-1973, Quảng Trị vẫn chưa có được hòa bình trọn vẹn. Tiếng súng tiếp tục vang lên trên các vùng giáp ranh. Những tuyến phòng thủ, chốt quân sự và các cuộc hành quân lấn chiếm khiến đời sống nhân dân luôn bị đe dọa.
Hải Lăng, vùng đất phía nam Quảng Trị, trở thành một trong những địa bàn đối đầu trực tiếp. Những làng quê từng gắn bó với ruộng đồng, sông nước và những con đường liên thôn bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh. Nhiều gia đình phải sơ tán, sản xuất bị gián đoạn, cuộc sống thường nhật chịu những tổn thất nặng nề.
Đầu năm 1975, phần lớn lãnh thổ Quảng Trị đã nằm trong vùng giải phóng, nhưng khu vực Hải Lăng vẫn là mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ phía bắc Thừa Thiên của quân đội Việt Nam Cộng hòa.
Đối với quân và dân Quảng Trị, giải phóng Hải Lăng không chỉ là hoàn thành nhiệm vụ quân sự. Đó còn là khát vọng giành lại từng thôn xóm, từng thửa ruộng và đưa quê hương thoát khỏi cảnh chiến tranh kéo dài.
Từ Mai Lĩnh đến những ngày tiến công quyết định
Bước sang năm 1975, cục diện chiến trường miền Nam có những thay đổi nhanh chóng. Chủ trương tiến công chiến lược của Trung ương Đảng đặt ra thời cơ và yêu cầu mới đối với các chiến trường. Trên mặt trận Trị - Thiên, lực lượng vũ trang địa phương được giao nhiệm vụ phối hợp tiến công, làm suy yếu hệ thống phòng thủ đối phương và sẵn sàng phát triển thắng lợi.
Tại Quảng Trị, các đơn vị bộ đội địa phương, đặc công và dân quân du kích tích cực chuẩn bị lực lượng, trinh sát mục tiêu, bố trí đội hình chiến đấu. Trong số những vị trí quân sự trọng yếu của đối phương, Chi khu quân sự Mai Lĩnh, thuộc địa bàn Hải Lăng thời bấy giờ, được xác định là một mục tiêu quan trọng.
Đêm 8 rạng sáng 9-3-1975, các lực lượng vũ trang Quảng Trị mở đầu những đòn tiến công vào hệ thống phòng thủ của đối phương. Trận đánh Chi khu Mai Lĩnh đã tạo ra tác động đáng kể, góp phần làm lung lay thế bố trí quân sự tại khu vực.
Cùng với trận đánh này, các đơn vị tiếp tục tiến công và gây sức ép lên nhiều cứ điểm khác. Trước tình hình bất lợi, lực lượng Việt Nam Cộng hòa phải rút bỏ 21 chốt ở phía tây Hải Lăng trong ngày 9-3.
Đó là một bước chuyển quan trọng. Tuyến phòng thủ vốn dựa vào các cứ điểm và chốt quân sự bắt đầu bị phá vỡ, khiến những đơn vị còn lại phải co cụm và tìm cách giữ những vị trí then chốt.
Thắng lợi ấy không chỉ được quyết định bởi sức tiến công của bộ đội. Tại nhiều địa phương, dân quân du kích và quần chúng cách mạng phối hợp hoạt động, tạo nên sức ép từ cả bên ngoài lẫn bên trong hệ thống kiểm soát của đối phương.
Từng cuộc tập kích, từng đợt vây ép, từng địa bàn giành lại quyền làm chủ đã góp phần làm thay đổi tương quan lực lượng. Trên vùng đất từng chịu nhiều bom đạn, một thời cơ lịch sử đang đến gần.
Ảnh tư liệu: Du kích và bộ đội địa phương Hải Lăng truy kích lực lượng đối phương ngày 18-3-1975. Ảnh được đăng trên Báo Sài Gòn Giải Phóng và giới thiệu lại trên Cổng thông tin Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Trị.
Đêm 18 rạng sáng 19-3: Tuyến phòng thủ cuối cùng bị phá vỡ
Sau những trận đánh đầu tháng Ba, quân và dân Quảng Trị tiếp tục chuẩn bị cho đợt tiến công quyết định.
Trong khi chiến trường Tây Nguyên chứng kiến những thắng lợi quan trọng của quân giải phóng, tình hình tại Trị - Thiên cũng chuyển biến mau lẹ. Các đơn vị Việt Nam Cộng hòa ở Quảng Trị đứng trước sức ép ngày càng lớn, phải điều chỉnh thế bố trí và đối phó với nguy cơ bị chia cắt.
Đêm 18 rạng sáng 19-3-1975, lực lượng vũ trang Quảng Trị đồng loạt mở đợt tiến công vào những vị trí phòng thủ còn lại của đối phương.
Các trận đánh diễn ra trên nhiều hướng. Tại khu vực Mỹ Thủy, Thâm Khê và những vị trí quan trọng gần thị xã Quảng Trị, bộ đội ta tiến công, buộc đối phương phải rút lui hoặc thay đổi thế phòng ngự.
Ở phía tây Hải Lăng, du kích các xã Hải Vĩnh, Hải Xuân, Hải Tân phối hợp với một bộ phận Tiểu đoàn 8 tiến công lực lượng đối phương đang co cụm ở khu vực Sông Nhùng, sau đó phát triển về Trường Thọ và Mỹ Chánh.
Tiểu đoàn 812 từ phía tây Hải Lăng truy kích đối phương tại Dốc Dầu, tiếp tục tiến công các vị trí ở Hải Kinh, Hải Nhi, Hải Văn.
Trên một hướng khác, lực lượng đặc công Tiểu đoàn 10 tiến công khu vực phía tây nam điểm cao 367, rồi phát triển về Hồ Lầy.
Những mũi tiến công liên tiếp đã khiến tuyến phòng thủ của đối phương không còn duy trì được sự liên kết cần thiết. Việc mất các chốt và địa bàn quan trọng làm giảm khả năng kiểm soát khu vực của quân đội Việt Nam Cộng hòa.
Theo một tư liệu đăng trên Báo Sài Gòn Giải Phóng năm 2005, vào khoảng 3 giờ sáng 19-3, Tiểu đoàn 14 đã cắm cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên cột cờ Thành cổ Quảng Trị.
Sự kiện này có ý nghĩa biểu tượng đặc biệt. Thành cổ, nơi từng trải qua cuộc chiến đấu khốc liệt năm 1972, lại chứng kiến sự hiện diện của lá cờ cách mạng trong những ngày tiến công cuối cùng giải phóng Quảng Trị.
Từ các trận đánh trên những điểm cao đến hoạt động truy kích tại vùng đồng bằng, từng bước tiến công góp phần làm tan rã hệ thống phòng thủ còn lại, tạo điều kiện để quân và dân Hải Lăng giành quyền làm chủ quê hương.
Chiều 19-3-1975: Hải Lăng hoàn toàn giải phóng
Ngày 19-3-1975 trở thành dấu mốc đặc biệt trong lịch sử Quảng Trị.
Trước sức tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng cùng phong trào nổi dậy tại địa phương, các đơn vị quân đội Việt Nam Cộng hòa còn lại ở Hải Lăng phải rút về phía nam, hướng Thừa Thiên.
Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, huyện Hải Lăng được hoàn toàn giải phóng.
Đây là thời khắc đánh dấu phần đất cuối cùng của tỉnh Quảng Trị được giải phóng, khép lại chặng đường đấu tranh đầy gian khổ của quân và dân địa phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Ngày chiến thắng không đến từ một trận đánh đơn lẻ. Đó là kết quả của sự phối hợp nhiều lực lượng, nhiều hướng tiến công, cùng quá trình bám đất, xây dựng cơ sở cách mạng và chiến đấu bền bỉ trong suốt những năm trước đó.
Phía sau các đơn vị trực tiếp cầm súng còn có nhân dân tham gia phục vụ chiến đấu, bảo vệ cơ sở cách mạng, giữ gìn lực lượng và góp sức vào phong trào đấu tranh tại địa phương.
Hải Lăng được giải phóng cũng đồng nghĩa với việc một mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ phía bắc Thừa Thiên - Huế của chính quyền Sài Gòn bị phá vỡ.
Từ một địa bàn từng là tuyến đối đầu khốc liệt, Quảng Trị bước sang vai trò hậu phương trực tiếp, góp phần bảo đảm điều kiện cho các lực lượng tiếp tục tiến công về phía nam.
Giữa tháng Ba lịch sử ấy, thắng lợi tại Hải Lăng vì thế mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một huyện. Đó là sự hoàn tất nhiệm vụ giải phóng Quảng Trị và là một phần trong quá trình phát triển của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
Ảnh tư liệu: Chiến sĩ quân giải phóng tại thị xã Quảng Trị trong cuộc tiến công mùa Xuân 1975. Ảnh: Xuân Lâm/Thông tấn xã Việt Nam.
Từ chiến thắng Hải Lăng đến ngày đất nước thống nhất
Sau ngày 19-3-1975, chiến trường Trị - Thiên tiếp tục chuyển biến nhanh chóng. Thắng lợi tại Quảng Trị góp phần tạo điều kiện cho các lực lượng cách mạng phát triển tiến công về Thừa Thiên - Huế.
Ngày 26-3-1975, thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên được giải phóng. Chỉ ba ngày sau, ngày 29-3, Đà Nẵng được giải phóng. Những thắng lợi nối tiếp nhau trên chiến trường miền Trung đã góp phần quan trọng tạo nên cục diện mới, tiến tới Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Ngày 30-4-1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước bước vào thời kỳ thống nhất.
Trong dòng chảy lịch sử ấy, chiến thắng Hải Lăng ngày 19-3 là một dấu mốc không thể tách rời.
Đối với Quảng Trị, đó là ngày quê hương được giải phóng hoàn toàn sau những năm tháng chiến tranh ác liệt. Đối với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đó là thắng lợi góp phần phá vỡ một bộ phận hệ thống phòng thủ của đối phương ở miền Trung, tạo thuận lợi cho các chiến dịch tiếp theo.
Ký ức còn lại trên mảnh đất Hải Lăng
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày 19-3-1975. Những vùng đất từng là trận địa nay đã đổi thay. Trên những cánh đồng, làng quê từng chịu bom đạn, cuộc sống hòa bình từng bước được dựng xây bằng lao động và ý chí của nhiều thế hệ.
Nhưng lịch sử Hải Lăng không chỉ được ghi nhớ bằng chiến thắng.
Đó còn là lịch sử của những người lính đã chiến đấu trên các điểm cao, những du kích kiên cường bám làng, những gia đình chịu cảnh chia ly và những người con mãi mãi không trở về.
Mỗi địa danh Mai Lĩnh, Mỹ Chánh, Dốc Dầu, Hải Vĩnh hay Hải Xuân đều gợi nhắc một chặng đường đấu tranh gian khổ. Những chiến công trên mảnh đất ấy được đánh đổi bằng sự hy sinh, mất mát của biết bao con người.
Ngày 19-3-1975 vì thế không chỉ là ngày ghi trên những trang sử. Đó còn là ngày để các thế hệ hôm nay tưởng nhớ những người đã ngã xuống, trân trọng giá trị của độc lập, tự do và gìn giữ thành quả hòa bình.
Chiến thắng Hải Lăng nhắc chúng ta rằng lịch sử không chỉ được làm nên bởi những chiến dịch lớn hay những quyết định chiến lược. Lịch sử còn được viết từ sự bền bỉ của người dân nơi thôn xóm, từ những đơn vị bộ đội địa phương, từ những chiến sĩ vô danh đã góp phần tạo nên sức mạnh chung của dân tộc.
Chiều 19-3-1975, phần đất cuối cùng của Quảng Trị được giải phóng. Đó là khoảnh khắc khép lại một chặng đường chiến tranh trên quê hương tuyến lửa, đồng thời mở ra hành trình hồi sinh của vùng đất từng chịu biết bao đau thương.
Và trong ký ức lịch sử dân tộc, Hải Lăng mãi là một phần của bản hùng ca mùa Xuân 1975 — bản hùng ca được viết bằng lòng yêu nước, ý chí kiên cường và khát vọng hòa bình, thống nhất non sông.



