Cựu chiến binh

Hai người lính trẻ bên dòng lịch sử B’Lao

Đồng chí Hồ Tiễm sinh năm 1958, chức vụ Ban chỉ huy xã Lộc Thiện thuộc B’Lao/Bảo Lộc, Lâm Đồng và đồng chí Huỳnh Thị Nở, sinh năm 1958, chức vụ Dân quân tự vệ xã Lộc Thiện thuộc B’Lao/Bảo Lộc. Vào bối cảnh năm 1975: nếu lời kể của ông bà cho biết ông Hồ Tiễm thuộc Ban chỉ huy xã Lộc Thiện, còn bà Huỳnh Thị Nở là dân quân tự vệ. Một người tham gia giữ chính quyền mới, một người bảo vệ dân, nắm địa bàn, hậu cần và phối hợp truy quét các nhóm vũ trang chống phá.

Lâm Đồng19/08/2026Phường 1 - Bảo Lộc (Phường 1 - Bảo Lộc)7 lượt xem0 lượt chia sẻ
Hai người lính trẻ bên dòng lịch sử B’Lao

Hai người lính trẻ bên dòng lịch sử B’Lao

Có những thế hệ thanh niên bước vào đời không bằng những năm tháng bình yên. Họ trưởng thành giữa những ngày đất nước vừa đi qua chiến tranh, chính quyền cách mạng còn non trẻ, cuộc sống còn bộn bề và những tiếng súng chống phá vẫn chưa dứt. Ở B’Lao năm ấy, Hồ Tiễm và Huỳnh Thị Nở là hai người trẻ như thế. Một người trong Ban Chỉ huy xã Lộc Thiện, một người là dân quân tự vệ. Giữa những ngày làm nhiệm vụ, họ gặp nhau, tin nhau và rồi nên duyên vợ chồng. Hơn nửa thế kỷ sau, câu chuyện của họ vẫn còn đó như một lát cắt bình dị về một thế hệ đã sống, chiến đấu và dựng xây quê hương từ những ngày đầu gian khó.

B’Lao những ngày sau giải phóng

Năm 1975, đất nước thống nhất. Với nhiều người, đó là thời khắc của niềm vui và hy vọng. Nhưng ở nhiều địa bàn Tây Nguyên, trong đó có Lâm Đồng, những ngày đầu sau giải phóng vẫn là một khoảng thời gian đầy thử thách.

Chính quyền cách mạng vừa được thành lập và đang từng bước củng cố. Cơ sở vật chất thiếu thốn, đời sống nhân dân còn khó khăn, hậu quả chiến tranh chưa thể khắc phục trong ngày một ngày hai. Trong khi đó, lực lượng FULRO lợi dụng tình hình chính quyền mới còn chưa ổn định để tổ chức hoạt động vũ trang, xây dựng cơ sở bí mật, lôi kéo quần chúng và tiến hành các hoạt động chống phá.

Theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (1975–2005), ngay từ những ngày đầu sau giải phóng, FULRO đã tổ chức đánh vào cơ quan chính quyền cách mạng, ám sát cán bộ, xây dựng mật khu, tìm cách gây dựng cơ sở và tổ chức tiếp tế. Tại các huyện phía Nam của tỉnh, lực lượng này tổ chức thành nhiều đơn vị và thiết lập hệ thống chỉ huy từ trên xuống dưới. Từ cuối tháng 5-1975, nhiều vụ phục kích cán bộ, chặn xe, cướp lương thực trên Quốc lộ 20 và Quốc lộ 27 xảy ra, khiến tình hình chính trị, an ninh trên địa bàn tỉnh diễn biến phức tạp.

Trong hoàn cảnh ấy, việc giữ gìn chính quyền mới không chỉ là nhiệm vụ của những đơn vị quân đội đóng trên địa bàn. Nó còn là công việc của cả hệ thống chính trị và những lực lượng tại chỗ: cán bộ xã, dân quân tự vệ, quần chúng nhân dân và những người được giao nhiệm vụ bảo vệ địa bàn.

B’Lao cũng nằm trong dòng chảy lịch sử đó, ở xã Lộc Thiện năm ấy có những người trẻ đã sớm khoác lên mình trách nhiệm của người bảo vệ quê hương.

Người chỉ huy trẻ Hồ Tiễm

Hồ Tiễm sinh năm 1958. Quê quán tại Quang Vinh, Quang Điền, Thừa Thiên Huế

Năm 1975, ông mới khoảng 17 tuổi – cái tuổi mà ngày nay nhiều người vẫn còn đang ngồi trên ghế nhà trường, sống trong vòng tay gia đình và nghĩ về những ước mơ rất đỗi bình thường của tuổi trẻ.

Nhưng lịch sử không cho tất cả mọi người được lớn lên trong những hoàn cảnh giống nhau.

Ở Lộc Thiện, Hồ Tiễm tham gia Ban Chỉ huy xã. Theo lời kể, ông cùng anh em trong ban chỉ huy phối hợp thực hiện nhiệm vụ truy lùng, đánh các nhóm FULRO hoạt động chống phá trên địa bàn.

Đó là công việc không dành cho những người chỉ biết đến hiểm nguy sau tiếng súng. Trong những ngày ấy, người làm nhiệm vụ ở cơ sở phải biết địa bàn, biết dân, biết đường đi lối lại, biết phối hợp với các lực lượng khác và quan trọng hơn cả là phải giữ được sự bình tĩnh trước một tình hình còn nhiều bất ổn.

Những người trẻ như Hồ Tiễm bước vào nhiệm vụ bằng vốn sống còn rất ít, nhưng bằng trách nhiệm thì không hề nhỏ.

Họ lớn lên cùng với nhiệm vụ.

1787063220807_1485339254565004979_1955680389152134668_f19e676477d2e0c7e84e71ae49886956.jpg

Mỗi lần đi làm nhiệm vụ là thêm một lần hiểu địa bàn. Mỗi lần đối mặt với nguy hiểm là thêm một lần hiểu giá trị của sự sống. Và mỗi lần trở về là thêm một lần nhận ra rằng phía sau mình là gia đình, là bà con xóm làng, là một chính quyền mới đang cần được bảo vệ.

Cô dân quân Huỳnh Thị Nở

Huỳnh Thị Nở sinh năm 1958, quê quán tại Cần Thơ, cũng bước vào tuổi thanh niên trong những ngày đất nước vừa thống nhất. Bà tham gia lực lượng dân quân tự vệ xã Lộc Thiện. Nếu ở tuyến đầu, những người làm nhiệm vụ phải đối mặt với hiểm nguy, thì phía sau họ luôn có những công việc âm thầm nhưng không thể thiếu.

Theo lời kể về những năm tháng ấy, bà Nở trúng tuyển bộ đội bên Campuchia nhưng vì nahf đông anh em, hoàn cảnh gia đình lúc bấy giờ nên em trai bà Huỳnh Mộng Sang đi bộ đội sang Campuchia, còn bà về làm du kích chuyên đội hầu cần ở xã Lộc Thiện. Ở đây, bà cùng các chị em tham gia hỗ trợ hậu cần cho công tác phòng chống lực lượng phản động. Những việc tưởng như nhỏ bé – chuẩn bị lương thực, chăm lo cho anh em, hỗ trợ lực lượng làm nhiệm vụ – lại trở thành một phần của cuộc đấu tranh giữ gìn địa bàn.

Lịch sử đôi khi được ghi bằng những trận đánh, những con số, những chiến công. Nhưng lịch sử cũng được làm nên từ những bàn tay âm thầm.

Có người cầm súng.

Có người lo hậu cần.

Có người giữ liên lạc.

Có người chăm sóc người bị thương.

Có người ở lại trông nom gia đình để người khác yên tâm đi làm nhiệm vụ.

Tất cả cùng tạo thành một sức mạnh chung.

Đối với Huỳnh Thị Nở, nhiệm vụ của một nữ dân quân trẻ khi ấy có lẽ không được nghĩ đến bằng những khái niệm lớn lao. Đơn giản là đất nước vừa hòa bình, quê hương cần được bảo vệ, anh em cần được hỗ trợ, thì mình làm phần việc của mình.

Chính những điều bình dị ấy làm nên vẻ đẹp của một thế hệ.

1787063220829_1485339254565004979_1955680389152134668_07054063f0a469b4802de898b9d9ae6e.jpg

Hai người trẻ gặp nhau giữa những ngày gian khó

Giữa những ngày công việc nối tiếp công việc, Hồ Tiễm và Huỳnh Thị Nở gặp nhau. Thời gian họ được ở bên nhau không nhiều. Một người thường xuyên phải lo công việc của Ban Chỉ huy xã. Một người tham gia lực lượng dân quân, cùng chị em đảm nhiệm những phần việc hậu cần và hỗ trợ lực lượng làm nhiệm vụ. Những cuộc gặp vì thế có thể ngắn ngủi. Có khi chỉ là một lần gặp nhau sau giờ làm nhiệm vụ. Có khi là một ánh mắt, một câu hỏi thăm. Có khi chỉ là biết người kia hôm nay vẫn bình an. Nhưng tình cảm lại len vào giữa những ngày tháng tưởng như chỉ dành cho nhiệm vụ. Trong hoàn cảnh ấy, tình yêu không có nhiều cơ hội để được thể hiện bằng những điều lãng mạn. Nó được đo bằng sự tin tưởng. Tin rằng người kia sẽ trở về. Tin rằng những ngày gian khó rồi sẽ qua. Tin rằng sau tiếng súng sẽ có ngày bình yên. Và tin rằng hai người có thể cùng nhau xây dựng một mái ấm.

Khi tình cảm đủ sâu, họ được chính quyền đồng ý cho kết hôn. Hai người lính trẻ năm nào trở thành vợ chồng. Từ những ngày cùng làm nhiệm vụ, họ bước sang một nhiệm vụ khác của cuộc đời là xây dựng gia đình.

Từ đồng đội thành người một nhà

Hôn nhân của Hồ Tiễm và Huỳnh Thị Nở không bắt đầu bằng một cuộc sống đầy đủ.

Nó bắt đầu từ những ngày đất nước còn khó khăn, quê hương còn nhiều việc phải làm và hai người đều đã sớm nếm trải những thử thách của tuổi trẻ. Rồi những đứa con lần lượt ra đời. Ba người con trở thành kết quả đẹp nhất của tình yêu đã được thử thách bởi thời gian. Nếu ngày trước họ cùng nhau lo việc nước, thì sau này họ cùng nhau lo việc nhà. Nếu ngày trước mỗi người có một nhiệm vụ, thì trong gia đình họ trở thành hai người cùng gánh vác.

Cuộc sống cứ thế đi qua. Những năm tháng chiến đấu dần lùi xa. Những người thanh niên năm 1975 ngày nào cũng bước sang tuổi trung niên, rồi trở thành những cựu chiến binh.

1787063859022_1485339254565004979_1955680389152134668_4abaaa06190b9439a361a9f021c52cdd.jpg

Nhưng có những điều không thay đổi đó là tình yêu quê hương.

Sau chiến tranh, họ chọn cách sống bình dị

Điều đáng quý trong câu chuyện của Hồ Tiễm và Huỳnh Thị Nở không chỉ nằm ở những năm tháng họ tham gia lực lượng tại cơ sở.

Điều đáng quý hơn là cách họ sống sau khi chiến tranh đã lùi xa họ trở về với cuộc sống đời thường. Không còn những ngày phải thường xuyên nghĩ đến truy quét, phòng thủ hay đối mặt với những hiểm nguy của buổi đầu sau giải phóng. Thay vào đó là những công việc rất bình thường của một gia đình, một xóm làng. Nhưng tình yêu quê hương vẫn được thể hiện bằng những việc rất nhỏ.

Họ sống cởi mở với bà con. Thấy cây thông ven đường gây cản trở thì sẵn sàng góp sức chặt bỏ, mở đường cho người dân đi lại. Gặp người già thì hỏi thăm. Thấy trẻ nhỏ thì thương yêu. Sống với hàng xóm bằng sự chân tình, làng trên xóm dưới ái củng quý mến. Những việc ấy không có trong những trang sử chiến tranh. Không có huy chương nào ghi lại. Không có con số thống kê nào đo đếm được. Nhưng đó chính là một phần của sự bình yên mà những người từng đi qua chiến tranh luôn trân trọng. Bởi người đã từng chứng kiến những ngày quê hương bất ổn càng hiểu giá trị của hai chữ yên lành.

Một thế hệ trưởng thành quá sớm

Nhìn lại cuộc đời Hồ Tiễm và Huỳnh Thị Nở, có thể thấy ở họ hình ảnh của một thế hệ thanh niên đặc biệt. Họ sinh ra vào năm 1958 năm 1975, khi đất nước thống nhất, họ mới 17 tuổi. Tuổi trẻ của họ không hoàn toàn được tính bằng những năm tháng học hành, vui chơi hay những chuyến đi khám phá cuộc đời. Tuổi trẻ ấy được tính bằng những ngày làm nhiệm vụ.

Bằng những lần đi trong đêm.

Bằng những buổi chờ đồng đội trở về.

Bằng những bữa cơm vội.

Bằng những lần lo lắng cho người mình thương.

Và bằng niềm hy vọng về một ngày quê hương thực sự bình yên.

Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng cho biết trong những tháng đầu sau giải phóng, các cấp ủy đã phải kết hợp hoạt động vũ trang, an ninh với vận động quần chúng, đồng thời củng cố chính quyền và các đoàn thể ở cơ sở để giải quyết tình hình FULRO.

Như vậy, câu chuyện của Hồ Tiễm và Huỳnh Thị Nở có thể được nhìn như một lát cắt nhỏ trong một bức tranh lớn hơn. Lịch sử ghi lại những chiến dịch, những con số và những chủ trương. Còn cuộc đời họ lưu giữ những câu chuyện của con người. Một người ở Ban Chỉ huy xã một người trong lực lượng dân quân tự vệ. Một người làm nhiệm vụ chỉ huy, phối hợp truy quét một người cùng các chị em làm công tác hậu cần. Rồi họ trở thành vợ chồng cùng nuôi ba người con, cùng đi qua những năm tháng khó khăn của đất nước cùng trở thành những cựu chiến binh trong thời bình.

1787063978153_1485339254565004979_1955680389152134668_a68942d9f4d46b1c79b544561f0eadc0.jpg1787063978158_1485339254565004979_1955680389152134668_f1865f8e6be9d02009c91dbabe70b61d.jpg

Bình yên hôm nay được xây từ những ngày tháng ấy

Có lẽ điều đẹp nhất trong câu chuyện của hai người lính trẻ năm nào không phải là họ đã từng làm những việc lớn lao đến đâu. Mà là sau khi hoàn thành những nhiệm vụ của tuổi trẻ, họ đã chọn sống một cuộc đời tử tế. Họ không xa rời làng xóm, không quên những người từng cùng mình đi qua gian khó, không coi quá khứ là điều để kể công. Họ sống như những người dân bình thường giữa cộng đồng, cởi mở, hiền lành, thương người và được mọi người yêu quý.

Có những cựu chiến binh mang quá khứ trên những tấm huân chương.

Có những người mang quá khứ trong những câu chuyện kể.

Cũng có những người mang quá khứ bằng chính cách sống của mình.

Hồ Tiễm và Huỳnh Thị Nở thuộc về những người như thế.

Những gì họ từng làm trong những ngày sau giải phóng góp một phần nhỏ bé vào việc giữ gìn chính quyền và cuộc sống của nhân dân ở cơ sở. Nhưng những gì họ làm trong thời bình lại cho thấy một ý nghĩa khác của người lính: chiến đấu để bảo vệ cuộc sống, rồi sống sao cho xứng đáng với cuộc sống bình yên mà mình từng góp sức bảo vệ.

B’Lao hôm nay đã khác rất nhiều so với B’Lao của những ngày sau giải phóng. B’Lao ngày nay chính là vùng đất Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xã Lộc Thiện cũng là một địa danh hành chính thuộc khu vực B’Lao/Bảo Lộc trong tư liệu thời kỳ đó. Bảo Lộc thành phố hôm nay, với những con đường rộng mở, những đồi chè xanh, những vườn cà phê, những mái nhà bình yên và những thế hệ trẻ lớn lên trong hòa bình, những tiếng súng năm xưa chỉ còn trong ký ức. Nhưng ở đâu đó trong những mái nhà bình dị, vẫn còn những người từng đi qua lịch sử. Họ có thể không còn nhớ hết từng ngày, từng tháng. Có thể những câu chuyện năm xưa đã được kể lại nhiều lần và theo thời gian đã trở nên giản dị hơn nhưng ký ức về một thời tuổi trẻ thì vẫn còn.

Một chàng trai 17 tuổi mang trách nhiệm của người chỉ huy cơ sở, một cô gái 16 tuổi đứng trong hàng ngũ dân quân tự vệ. Hai con người gặp nhau giữa những ngày gian khó. Họ đã cùng nhau đi qua chiến tranh và cùng nhau già đi trong sự yêu thương của bà con xóm làng. Đó cũng là một cách để lịch sử tiếp tục sống không chỉ trong sách, trên những trang tư liệu mà trong ký ức của một gia đình, trong tình nghĩa của một xóm làng và trong cuộc đời bình dị của những con người đã từng rất trẻ. Điều đó nhắc thế hệ trẻ rằng giá trị của một con người không chỉ được đo bằng chức vụ hay thành tích, mà còn bằng cách họ đối xử với những người xung quanh

Hồ Tiễm và Huỳnh Thị Nở – hai người lính trẻ bên dòng lịch sử B’Lao – có lẽ cũng là hình ảnh của biết bao thanh niên Việt Nam trưởng thành từ những năm tháng khắc nghiệt ấy: tuổi đời còn rất trẻ, nhưng trách nhiệm với quê hương đã lớn; đi qua gian khó nhưng không đánh mất tình yêu; trở về với đời thường nhưng không quên nghĩa tình của một thời.

Và sau tất cả, họ đã có một cuộc đời đã được sống trọn vẹn với quê hương.

Thế hệ trẻ hôm nay không cần phải sống lại những năm tháng chiến tranh để tiếp nối thế hệ đi trước. Điều cần tiếp nối là tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nước, sự đoàn kết, lòng nhân ái và ý chí vượt qua khó khăn. Nếu thế hệ của Hồ Tiễm và Huỳnh Thị Nở đã góp sức giữ gìn quê hương trong những ngày gian khó, thì thế hệ trẻ hôm nay có trách nhiệm xây dựng một quê hương B’Lao – Bảo Lộc ngày càng giàu đẹp, văn minh và nghĩa tình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn