Hai người thầy đặc biệt của nữ cựu tù Côn Đảo
Nửa tháng cuối trên đảo
Tháng 4/1975, nhà tù Côn Đảo có 7.448 tù nhân, trong đó có 4.234 tù chính trị (494 phụ nữ), 3.214 tù thường phạm và quân phạm.
Trong số các tù chính trị thì 2.488 người đang chịu chế độ cấm cố ở trại I, trại V, trại VI và trại VII. Đây là những người chống chào cờ, chống học tố Cộng, chống nội quy nhà tù từ nhiều năm trước. Còn hơn 1.700 người ở trại II và trại III chung với tù thường phạm.
Từ tháng 3, khi quân đội ta triển khai Chiến dịch Tây Nguyên mở màn cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, địch tăng cường phòng thủ Côn Đảo. Trên đảo có một tiểu đoàn bảo an (khoảng 500 tên), một đại đội cảnh sát (gần 100 tên), 89 giám thị, 130 công chức và gần 1.000 trật tự an ninh được tuyển chọn trong số tù thường phạm, quân phạm lưu manh nhất. Chúng cũng sửa lại con đường từ thị trấn qua Hàng Dương lên Sở Tiêu. Với hệ thống đường này, địch có thể khống chế các trại từ phía chân núi. Trong trường hợp tù nhân nổi dậy, chúng có thể cơ động lực lượng và bố trí hỏa lực đàn áp, đẩy lực lượng nổi dậy ra phía biển và nhanh chóng tiêu diệt...
Bà Hoàng Thị Khánh nhớ lại…
Ở mỗi trại, tù nhân đều giấu được 1 chiếc radio để nghe thời sự. Quân ta đánh tới đâu, giải phóng tới đâu, tù nhân đều nghe được hết.
Khi quân ta đánh tới Phước Long, Long Khánh, Xuân Lộc, chúng tôi mừng lắm. Khoảng ngày 20-21/4, chúng tôi còn được nghe đài nhưng đến ngày 22, cai tù tổng rà soát từng ngõ ngách, từng viên gạch và lấy mất radio.
Không còn nguồn nghe thông tin, lúc nào chúng tôi cũng đau đáu chờ mấy ông đi khiêng cơm tới để hỏi tình hình. Nhưng khi đó, cứ 2 người khiêng cơm thì có 1 trật tự đi theo giám sát. Thành ra, họ không thể nói gì.
Khoảng ngày 26-28/4, khi địch đem mìn gài ở các trại, tù nhân chúng tôi đoán “chắc sắp giải phóng rồi nhưng chúng không tha mình”.
Rồi mọi người dặn nhau đằng nào cũng chết thì phải chết sao cho rạng rỡ. Vì vậy, mỗi người luôn mặc 2 bộ đồ, quấn cả khăn để nếu giặc có tách ra, chúng tôi còn có cái mà mặc.
Ngày 28/4, thấy máy bay quần thảo ở trên đầu, chúng tôi nghĩ “chắc nó ném bom hủy luôn cái đảo này”.
Ngày 29/4, trong khi quân giải phóng tiến vào Sài Gòn thì ở Côn Đảo, các trại tù cấm cố bị canh gác chặt chẽ. Bầu trời Côn Đảo náo loạn bởi các chuyến bay quân sự lên xuống sân bay Cỏ Ống, chở quân tướng địch di tản. Tới 16h30 cùng ngày, cố vấn Mỹ đóng ở Côn Đảo rút chạy.
Nhưng đó là chuyện mà sau này bà Khánh mới được biết. Còn thời điểm này, đang bị khóa chặt trong phòng giam, các tù nhân như bà chỉ có thông tin “Tới ngày 29, đám quản lý thay nhau xuống tàu chạy nhưng đám trại trưởng gần như không được đi”.
Rồi đêm 30/4, rạng sáng 1/5, linh mục Phạm Gia Thụy - là linh mục ở đảo - tới gặp tù chính trị ở trại 6B, nói “Miền Nam giải phóng rồi, giờ ngoài này tính sao?”.
Lúc đầu, các tù chính trị không tin, nghĩ ông đó làm tay sai cho giặc, lừa mình ra để giết. Vì thế, tù nhân yêu cầu cho nghe radio.
Nghe được rồi, chúng tôi mới biết miền Nam đã được giải phóng thật sự. Lúc đó, tù chính trị chúng tôi mới thả lỏng, cảm giác mình sống rồi…
Ngay rạng sáng 1/5, các tù chính trị có trách nhiệm ở trại VII triệu tập một cuộc họp và quyết định thành lập Đảo ủy lâm thời (gồm 7 người) để lãnh đạo cuộc nổi dậy. Đảo ủy lâm thời đề ra chương trình hành động, gồm 3 điểm chính: cử người đi giải phóng các nhà lao, trước hết là lao phụ nữ; tổ chức ngay lực lượng võ trang, chiếm trại lính và các vị trí quan trọng; thành lập chính quyền cách mạng để quản lý và giải quyết mọi việc trên đảo. Đảo ủy lâm thời tổ chức lực lượng chia thành nhiều tốp, từ trại VII đến giải phóng các trại.
Sáng 1/5, chúng tôi bắt đầu phân công nhau đi đào hầm, hố theo dọc bờ biển, phân công người đi chiếm lĩnh sân bay Cỏ Ống, lên chiếm lĩnh núi Thánh giá. Điểm nào quan trọng là phải chiếm hết.
Còn mấy cô thì rất nhiều việc - nào là may ruột tượng, bỏ gạo vào rồi phân cho mỗi người 1 cái, nào là chuẩn bị bình tông, nấu nướng cho các anh, lại còn phục vụ quân phạm với thường phạm, tiếp tế cho nhà thờ. Lực lượng của mình còn đi đánh bắt cá để cải thiện.
Chúng tôi vẫn lo “Mình tự giải phóng nhưng biết đâu giặc quay lại diệt mình, diệt đảo thì sao”, bởi lúc đó còn nghe tiếng máy bay quần trên cao.
Đến chiều 2/5, đài vô tuyến điện Côn Đảo phát sóng, chuyển bức điện Đảo ủy lâm thời về đất liền. Khi Thành ủy Sài Gòn hỏi Côn Đảo cần gì để đất liền chi viện ngay, đồng chí đại diện cho Đảo ủy lâm thời trả lời: “Chúng tôi cần ảnh Bác Hồ và cờ”.
Rạng sáng 4/5, khi tàu V. 609 và tàu V. 683 hải quân chở bộ đội ra đến nơi thì tù chính trị Côn Đảo đã hoàn toàn làm chủ và ổn định tình hình trên đảo.
Hải quân đưa ảnh Bác Hồ và cờ lên đảo. Chúng tôi đón ở cầu 914, khóc như mưa. Sau đó, chúng tôi nhận ảnh Bác rồi phát hết cho các trại.
Buổi văn nghệ do chính chúng tôi - giờ đã là cựu tù - tổ chức diễn ra ngày 5/5. Cũng trong ngày hôm đó, đoàn đầu tiên trở về đất liền, chủ yếu là những người bệnh nặng, thương tật nặng, già yếu. Ngày 7/5, đoàn 2 rời đảo, tôi ở trong đoàn này…
Những ngày đó trên đảo vui lắm. Chúng tôi làm khuôn hình ngôi sao, dặm xuống sơn đỏ rồi gắn lên trên ngực, coi đó là dấu hiệu chiến thắng.
Chúng tôi là một đoàn chiến thắng.



