Hai người thầy, một ngôi sao đỏ: Ký ức Côn Đảo của bà Hoàng Thị Khánh
Hai người thầy, một ngôi sao đỏ: Ký ức Côn Đảo của bà Hoàng Thị Khánh “Chúng tôi làm khuôn ngôi sao, dặm sơn đỏ rồi gắn lên ngực. Tự nhủ: mình là một đoàn chiến thắng.” Bà Hoàng Thị Khánh (Trưởng ban liên lạc cựu tù chính trị và tù binh TP.HCM) kể lại, giọng vẫn rộn ràng như thể tiếng reo mừng ngày giải phóng còn vang đâu đây trên đảo.
“Chúng tôi làm khuôn ngôi sao, dặm sơn đỏ rồi gắn lên ngực. Tự nhủ: mình là một đoàn chiến thắng.” Bà Hoàng Thị Khánh (Trưởng ban liên lạc cựu tù chính trị và tù binh TP.HCM) kể lại, giọng vẫn rộn ràng như thể tiếng reo mừng ngày giải phóng còn vang đâu đây trên đảo.
Những ngày tháng 4/1975, trong khi bà tất bật chuẩn bị cho các hoạt động kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước, ký ức lại đưa bà trở về Côn Đảo – “địa ngục trần gian” của đúng 50 năm trước. Khi ấy, nhà tù có 7.448 tù nhân, trong đó 4.234 tù chính trị (494 phụ nữ), còn lại là tù thường phạm và quân phạm. Riêng tù chính trị, có một bộ phận lớn bị cấm cố ở các trại I, V, VI, VII vì kiên quyết chống chào cờ, chống học tố Cộng, chống nội quy nhà tù.
Từ tháng 3/1975, khi chiến trường dồn dập tin thắng trận, địch siết chặt phòng thủ Côn Đảo. Trên đảo có lực lượng bảo an, cảnh sát, giám thị, công chức và cả hệ thống “trật tự an ninh” được chọn trong số tù thường phạm hung hãn. Tù nhân vẫn cố giữ những chiếc radio bí mật để nghe thời sự. Quân ta tiến đến đâu, họ mừng đến đó. Nhưng rồi khoảng 22/4, địch tổng rà soát, lục từng ngóc ngách, tịch thu radio, cắt luôn “đường sống” thông tin.
Không còn nghe đài, tù nhân chỉ biết chờ những người khiêng cơm để hỏi tin, nhưng lúc nào cũng có trật tự giám sát kèm theo. Đến khoảng 26–28/4, khi thấy địch gài mìn ở các trại, nhiều người linh cảm: “Sắp giải phóng rồi… nhưng nó không tha mình.” Ai cũng tự dặn nhau: nếu có chuyện, phải sống chết cho “rạng rỡ”. Bà kể, có lúc nhìn máy bay quần thảo, tù nhân còn nghĩ tới tình huống xấu nhất.
Đêm 30/4, rạng sáng 1/5, linh mục Phạm Gia Thụy đến gặp tù chính trị ở trại 6B và nói: “Miền Nam giải phóng rồi, giờ ngoài này tính sao?”. Ban đầu, nhiều người không tin, sợ là bẫy. Tù nhân yêu cầu được nghe radio để kiểm chứng. Khi nghe tin thật, cảm giác chung là… “mình sống rồi”.
Ngay rạng sáng 1/5, tù chính trị trại VII họp và quyết định lập Đảo ủy lâm thời (7 người), đề ra 3 việc lớn: giải phóng các trại giam (trước hết là lao phụ nữ), tổ chức lực lượng vũ trang chiếm trại lính và các vị trí trọng yếu, lập chính quyền cách mạng để quản lý đảo. Từ trại VII, các tổ lần lượt đi mở khóa, giải phóng các trại.
Trong khi nhiều anh em chia quân chiếm sân bay Cỏ Ống, núi Thánh giá, đào công sự dọc bờ biển… thì chị em phụ nữ “ôm” hàng loạt việc hậu cần: may ruột tượng đựng gạo, chuẩn bị bình tông, nấu nướng, tiếp tế cho nhiều khu vực, thậm chí đi đánh bắt cá để cải thiện. Vẫn vui, nhưng vẫn thấp thỏm: lỡ “giặc quay lại” thì sao, vì tiếng máy bay vẫn còn trên trời.
Đến chiều 2/5, đài vô tuyến Côn Đảo phát sóng bức điện của Đảo ủy lâm thời về đất liền. Khi Thành ủy Sài Gòn hỏi cần chi viện gì, câu trả lời nghe vừa giản dị vừa nghẹn: “Chúng tôi cần ảnh Bác Hồ và cờ.” Rạng sáng 4/5, tàu hải quân V.609 và V.683 chở bộ đội ra đến nơi – lúc đó tù chính trị đã làm chủ đảo, tình hình cơ bản ổn định. Ảnh Bác và cờ được đưa lên, mọi người đón ở cầu 914, “khóc như mưa”.
Ngày 5/5, bà con cựu tù tự tổ chức văn nghệ. Rồi các đoàn lần lượt rời đảo: đoàn đầu ưu tiên người bệnh nặng, già yếu; ngày 7/5 là đoàn thứ hai, bà Khánh đi trong đoàn này. Và giữa những ngày “không ai nghĩ mình còn được sống để nhìn thấy”, họ làm những ngôi sao đỏ gắn ngực áo như một lời khẳng định: chúng tôi đã đi qua, và đã thắng.
Nhắc về đời mình, bà Khánh nói có hai người thầy bà luôn mang ơn.
Người thầy đầu tiên là ông Trần Trọng Tân (1926–2014) – bà gọi thân mật là chú Hai Tân. Bà là Việt kiều Campuchia, gia đình công nhân cao su, tham gia phong trào yêu nước nhưng nhận thức còn “mơ hồ”. Về Việt Nam, chú Hai Tân là người “khai đường mở lối” bằng những bài học rất đời. Bà nhớ như in câu hỏi chú dạy đầu tiên: “Vì ai ta chiến đấu? Ta chiến đấu vì ai?”. Và bài học thứ hai – khi bà không muốn làm “chị nuôi” vì nghĩ nấu cơm là “ở đợ” – chú giải thích cách mạng như một chiếc đồng hồ: bánh to bánh nhỏ đều cần, thiếu phần nào thì đồng hồ không chạy. “Cơm sống, cơm khê… người ta ốm, thiếu sức chiến đấu” – nghe xong, bà yên lòng làm việc.
Người thầy thứ hai là dì Phan Thị Tốt (1921–2008), bà gọi là dì Ba Tốt – “người thầy trong chiến đấu”. Dì Tốt bị bắt khi đang là Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ, nhưng bề ngoài nhỏ bé, mộc mạc đến mức địch bắt được cũng không hay “đúng người”. Trong tù, dì chủ trương đấu tranh mềm dẻo, linh hoạt, luôn đặt mục tiêu – giới hạn – điểm dừng để bảo toàn lực lượng. Từ cách tổ chức tuyệt thực, cách bố trí người chịu đựng tốt – người yếu hơn, đến cách kết thúc khi đạt quá nửa yêu sách… đều cho thấy một bản lĩnh “mềm mà không yếu”. Ở gần dì suốt gần 5 năm tù, bà Khánh học được điều quan trọng: đôi khi, mềm dẻo mới là dạng “cứng” khó nhất.
Sau giải phóng, bà Khánh tiếp tục công tác nhiều vị trí, trước khi nghỉ hưu là cán bộ lãnh đạo ở TP.HCM. Nhưng điều bà đau đáu nhất lại là chuyện “chưa trọn vẹn” với anh em cựu tù còn khó khăn: có người ở tù lâu, thiếu điều kiện học hành nên khó phát triển; có người già yếu, không còn nhớ đủ thông tin để làm chế độ. Vì vậy, bà và Ban liên lạc vẫn bền bỉ vận động nguồn lực, lập Quỹ nghĩa tình để hỗ trợ những trường hợp ngặt nghèo – dù mỗi suất không lớn, vẫn là một cái nắm tay đúng lúc.
Kết câu chuyện, bà nói niềm vui của bà không chỉ là kỷ niệm 50 năm, mà là niềm tin đất nước sẽ đi lên, đời sống nhân dân tốt hơn, xã hội bình yên hơn. Và trong niềm tin đó, có bóng dáng của những ngôi sao đỏ tự tay làm ở Côn Đảo năm ấy: một dấu hiệu nhỏ, nhưng là ký ức lớn của người đi qua lịch sử.



