Người có công giúp đỡ cách mạng

Hải Phòng 100 năm trước

Hải Phòng xưa kia là làng chài nhỏ ven sông Cấm, sau đó được người Pháp đầu tư, phát triển thành đô thị hàng hải - công nghiệp.

Lạng Sơn14/08/2026phường Nam Triệu (phường Nam Triệu)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
  1. Hải Phòng vào cuối thế kỷ 19 là vùng đất thuộc trấn Hải Dương, không phải thành lũy phong kiến như Hà Nội hay đô thị lớn như Hội An. Nơi đây chỉ là làng chài nhỏ gần cửa sông, ít được quan tâm phát triển.

  • Vào thời vua Tự Đức, Bùi Viện được giao phó xây dựng bến cảng bên cửa sông Cấm (đặt tên là Ninh Hải) và xây dựng căn cứ gọi là nha Hải phòng sứ. Lực lượng tuần dương gồm 200 chiến thuyền, 2.000 quân thủy thiện chiến. Căn cứ Hải phòng sứ được xem là giả thuyết cho tên gọi Hải Phòng.

  • Năm 1874, triều đình Huế ký hiệp ước dâng 5 mẫu đất và quyền kiểm soát bến Ninh Hải cho người Pháp. Từ đó đến đầu thế kỷ 20, Hải Phòng được mở mang, đầu tư phát triển thành đô thị hàng hải - công nghiệp.
    Sau hiệp ước, Cơ quan thuế vụ chung quản lý việc thương mại ở vùng cảng Ninh Hải, gọi là "Hải Dương thương chính quan phòng" được đặt ở ngã ba sông Tam Bạc và sông Cấm, nay là phố Phan Đình Phùng, quận Hồng Bàng.

    Năm 1887, thực dân Pháp chủ trương tách một số huyện ven biển của tỉnh Hải Dương nằm lân cận cảng Ninh Hải, để thành lập tỉnh Hải Phòng. Ngày 19/7/1888, tỉnh Hải Phòng lại được tách thành TP Hải Phòng và tỉnh Kiến An.

  • Thời Pháp thuộc, Hải Phòng được Toàn quyền Đông Dương xếp loại thành phố cấp I ngang với Hà Nội và Sài Gòn.
    Hoàng Diệu, bến cảng đầu tiên của Hải Phòng nhìn từ trên cao thập niên 1920-1930. Bến cảng được người Pháp xây dựng trên khu đất ven sông Cấm, do nhà Nguyễn nhường quyền quản lý.

  • Về mặt hành chính, khi đó TP Hải Phòng là nhượng địa nên việc cai quản, khai thác thuộc quyền thực trị của người Pháp. Họ đã cho xây dựng hải cảng lớn, được gọi là bến "6 kho", đồng thời đầu tư xây dựng Hải Phòng là một trong những trung tâm công nghiệp, thương mại, tài chính… tầm cỡ, chỉ đứng sau Hà Nội và Sài Gòn thời điểm đó. Trong đó, quan trọng nhất là vị thế của hệ thống cảng, với vai trò cửa ngõ giao thương quốc tế lớn nhất miền Bắc.
    Ngoài hệ thống cảng biển, nhà máy, người Pháp cũng xây dựng hàng loạt trụ sở, công trình văn hóa, nổi tiếng nhất là Nhà hát lớn. Đây cũng là một trong ba nhà hát lớn được người Pháp xây dựng ở Việt Nam.

    Theo nhà nghiên cứu Phạm Tuệ, công trình được khánh thành ngày 16/11/1900, trước Nhà hát lớn ở Hà Nội 11 năm và sau Nhà hát lớn ở TP HCM 9 tháng. Ngày nay, Nhà hát lớn thành phố vẫn thường xuyên diễn ra các sự kiện lớn.

  • Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn