Bài viết

Hai trang giấy giữa đêm quyết chiến – Lời kêu gọi cứu nước

30/10/2026Lê Minh Đức (Phường Đông Hưng Thuận)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Hai trang giấy giữa đêm quyết chiến – Lời kêu gọi cứu nước
cc8.jpg

(Hai trang bản thảo viết tay “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 19/12/1946. Hiện vật được công nhận là Bảo vật quốc gia, lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia)

Cuối năm 1946, nền độc lập non trẻ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước một thử thách vô cùng nghiêm trọng.

Thực dân Pháp liên tiếp gây hấn tại Hà Nội và nhiều địa phương, đẩy tình hình đến bờ vực chiến tranh. Dù Chính phủ Việt Nam đã cố gắng tìm kiếm một giải pháp hòa bình, nguy cơ một cuộc chiến tranh xâm lược trên quy mô lớn ngày càng hiện rõ.

Trong những ngày tháng căng thẳng ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời trung tâm Hà Nội, đến ở và làm việc tại nhà ông Nguyễn Văn Dương, ở làng Vạn Phúc, Hà Đông.

Đó không phải là một dinh thự lớn hay một sở chỉ huy được bảo vệ bằng hệ thống công sự kiên cố.

Nơi Người làm việc là một căn phòng nhỏ trên gác hai của ngôi nhà.

Tại đây, giữa lúc vận mệnh đất nước đứng trước những quyết định sống còn, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bản Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử quốc gia, bản thảo được Người viết trên hai trang giấy rời màu ngà, không có dòng kẻ, mỗi trang có kích thước khoảng 13,5 × 20,5 cm.

Trong bản viết tay, bên cạnh nét chữ mực nâu của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có những nét sửa chữa bằng mực xanh của đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Hai trang giấy nhỏ ấy chứa đựng lời hiệu triệu có ý nghĩa to lớn đối với toàn thể dân tộc.

Mở đầu, Người nêu rõ:

“Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng.”

Đó là lời khẳng định rằng nhân dân Việt Nam mong muốn được sống trong hòa bình, không chủ trương gây chiến tranh.

Nhưng khi nền độc lập bị đe dọa, dân tộc Việt Nam không thể chấp nhận trở lại thân phận mất nước.

Lời kêu gọi yêu cầu toàn dân đoàn kết đứng lên bảo vệ Tổ quốc, không phân biệt tuổi tác, giới tính, tôn giáo hay thành phần xã hội. Ai có vũ khí thì dùng vũ khí, ai không có thì sử dụng những công cụ sẵn có để tham gia kháng chiến.

Đêm 19 tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

Tại Hà Nội, những trận đánh diễn ra quyết liệt. Các chiến sĩ tự vệ cùng bộ đội chiến đấu tại nhiều vị trí trọng yếu, nhân dân dựng chiến lũy bằng những đồ vật và vật liệu có thể sử dụng được.

Sáng ngày 20 tháng 12 năm 1946, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Báo Cứu Quốc sau đó đăng tải lời kêu gọi và hàng nghìn bản in được chuyển đến các địa phương.

Từ Hà Nội đến các chiến khu, từ những thành phố đang chiến đấu đến các làng quê, lời hiệu triệu đã góp phần cổ vũ quyết tâm kháng chiến của quân và dân cả nước.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kéo dài gần chín năm sau đó, kết thúc bằng những thắng lợi quan trọng, đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.

Nhìn lại hai trang giấy được viết tại làng Vạn Phúc, chúng ta càng hiểu rằng sức mạnh của một dân tộc không chỉ nằm ở vũ khí, mà còn nằm ở ý chí độc lập và sự đoàn kết của nhân dân.

Hai trang giấy nhỏ, nhưng đã góp phần khơi dậy quyết tâm bảo vệ Tổ quốc của hàng triệu người Việt Nam trong thời khắc hiểm nghèo.

Bài học lịch sử: Yêu chuộng hòa bình không có nghĩa là chấp nhận mất độc lập. Mỗi người dân đều có trách nhiệm đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn