hải trình bão lửa
HẢI TRÌNH BÃO LỬA CỦA TÀU 43
Đầu năm 1968, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân bước vào giai đoạn quyết liệt nhất trên khắp các chiến trường miền Nam. Nhu cầu tiếp tế vũ khí, đạn dược cho lực lượng ta ở vùng ven biển Trung Trung Bộ trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Nhận lệnh từ Bộ Tư lệnh Hải quân, Tàu 43 thuộc Đoàn 125 – con đường Hồ Chí Minh trên biển – do Thuyền trưởng Nguyễn Tấn Kiệt chỉ huy và Chính trị viên Trần Đồng đi cùng, chuẩn bị rời cảng dã chiến lên đường chở hàng chục tấn vũ khí vào bến Đức Phổ, Quảng Ngãi.
Chiếc tàu sắt được ngụy trang cẩn thận thành tàu đánh cá vô danh, không mang số hiệu hay cờ hiệu. Để vượt qua hệ thống ra-đa dày đặc và các hạm đội tuần tra của địch, Tàu 43 phải chọn lộ trình đầy nguy hiểm: tiến ra vùng biển quốc tế, đối mặt với những cơn sóng dữ cấp 7, cấp 8 rồi mới bất ngờ bẻ lái áp sát bờ biển miền Nam trong đêm tối.
Đêm ngày 28 tháng 2 năm 1968, biển Quảng Ngãi chìm trong dải sương mù đặc quánh. Chiếc Tàu 43 lặng lẽ xé sóng tiến về hướng bến Phổ An. Tất cả các đèn trên tàu đều tắt phụt, 16 cán bộ, chiến sĩ trên tàu căng mắt quan sát từng đốm sáng xa xa phía bờ.
Đúng 1 giờ sáng, khi tàu chỉ còn cách bờ chừng vài hải lý, màn hình ra-đa của Tàu 43 bất ngờ hiện lên nhiều chấm sáng lạ. Bốn chiếc tàu chiến lớn và hai tàu tuần đầm của địch thuộc Lực lượng Đặc nhiệm hải quân Mỹ - Sài Gòn đã phát hiện ra dấu vết của chiếc tàu lạ và khép chặt vòng vây từ ba phía.
"Tất cả vào vị trí chiến đấu! Bằng mọi giá không để tàu và hàng rơi vào tay địch!" – Thuyền trưởng Nguyễn Tấn Kiệt ra lệnh ngắn gọn, giọng đanh thép.
Ngay lập tức, pháo hạm từ các tàu chiến địch xả đạn dồn dập về phía Tàu 43. Những cột nước khổng lồ dựng đứng quanh thân tàu, mảnh đạn cào xé lớp vỏ thép kêu lên những tiếng "keng, keng" rợn người. Đèn chiếu công suất lớn từ tàu địch soi rực một vùng biển, biến đêm đen thành ban ngày.
Dù kích thước nhỏ bé và hỏa lực khiêm tốn, Tàu 43 không hề nao núng. Thuyền trưởng Kiệt bình tĩnh điều khiển tàu lách qua những rãnh đạn, hướng thẳng mũi tàu vào dải bãi cát ven bờ. Trên mạn tàu, các chiến sĩ dùng súng B-40, B-41 và pháo 12.7mm đánh trả quyết liệt. Nhiều khẩu đội pháo của địch bị hỏa lực dũng cảm của Tàu 43 dập tắt.
Nhưng cuộc chiến quá chênh lệch. Một quả pháo hạm rơi trúng cabin chỉ huy, làm Thuyền trưởng Nguyễn Tấn Kiệt và Chính trị viên Trần Đồng bị thương nặng. Thân tàu bị thủng nhiều chỗ, nước biển tràn vào cuồn cuộn. Khoang máy bốc cháy nghi ngút, khói độc xộc lên nồng nặc khiến các chiến sĩ nghẹt thở.
Trong thời khắc sinh tử, khi tàu chiến địch áp sát chỉ còn cách vài trăm mét và liên tục dùng loa gọi hàng, Thuyền trưởng Kiệt cố gượng dậy, ra mệnh lệnh cuối cùng:
"Cho tàu lao thẳng lên bãi ngầm! Chuẩn bị kíp nổ hủy tàu!"
Đó là quy định sắt đá của Đoàn 125: Thà hy sinh thân mình, thà phá hủy phương tiện chứ nhất quyết không để lộ bí mật con đường vận tải chiến lược trên biển và không để một viên đạn nào rơi vào tay kẻ thù.
Tàu 43 phóng hết tốc lực còn lại, ủi thẳng lên bãi cạn ven biển Đức Phổ. Các chiến sĩ khẩn trương đưa các đồng chí bị thương và tử sĩ xuống nước lội vào bờ, trong khi hai chiến sĩ ở lại kích hoạt khối thuốc nổ hủy tàu.
"Một... hai... ba!"
Một quầng lửa khổng lồ dựng đứng giữa bờ biển Quảng Ngãi, kèm theo tiếng nổ xé trời rung chuyển cả vùng đồng bưng. Chiếc Tàu 43 vỡ tan thành nhiều mảnh, chìm sâu vào lòng biển quê hương, mang theo toàn bộ bí mật của hải trình huyền thoại.
Lực lượng còn lại của Tàu 43 sau khi lên bờ đã được nhân dân và du kích địa phương chở che, bảo vệ và dìu dắt qua các đợt càn quét của địch để trở về căn cứ an toàn.
Hải trình kiên cường của Tàu 43 đã trở thành một biểu tượng bất tử về lòng dũng cảm, sự hy sinh quên mình của những "chiến sĩ Tàu Không số". Họ đã biến những chiếc tàu sắt thô sơ thành những pháo đài thép trên biển cả, viết nên một trong những trang sử anh hùng và bi trí nhất thời hoa lửa.



