HẦM, HÀO CHIẾN ĐẤU TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954-1975)
Cuộc kháng chiến bền bỉ, anh dũng của nhân dân Việt Nam mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã buộc chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (ngày 21/7/1954), công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Nhưng ngay sau đó, đế quốc Mỹ nhảy vào thế chân Pháp xâm lược Việt Nam, cách mạng nước ta chuyển sang thời kỳ: đất nước tạm thời chia thành hai miền với hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Cuộc đấu tranh để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước tiếp tục bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau.
Một khẩu hiệu lớn của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là “Đảng vững, dân vững, hầm vững”; “Đào hầm, đào hầm nữa! Chừng nào bên kia sông Bến Hải còn Mỹ-ngụy, dân ta còn phải đào hầm!”.
Với tinh thần đó, một loạt hầm, hào với nhiều loại hình, khác nhau được hình thành: hầm để ở, hầm trạm xá, hầm hợp tác xã mua bán, hầm bệnh viện, hầm trường học, hầm dự trữ... Ngoài ra còn có loại “hầm lưu động”. Đó là những bộ khung tre kết cấu theo hình chữ A. Đây là loại hầm có sức chịu lực và tránh bom tốt nhất. Đầu năm 1965, khi nhận được bản mẫu thiết kế gửi vào, cán bộ, chiến sĩ ở miền Nam đã nghiên cứu, gia cố thêm hệ thống kèo dọc, kèo ngang, khẩu độ chữ A.
Đáp ứng yêu cầu phát triển của cuộc kháng chiến, hệ thống hầm hào không ngừng thay đổi, cải tiến. Từ loại hầm tròn một người trú ẩn đến hầm có nắp đậy, hầm chữ A. Từ chỗ làm hầm để phòng xa đến hầm để làm nơi ẩn nấp, chứa vũ khí, nơi ở, nơi làm việc. Tiêu biểu có hệ thống làng hầm ở Vĩnh Linh, Vịnh Mốc, Củ Chi; hầm chứa vũ khí của lực lượng biệt động Sài Gòn (số 183/4 đường 3 tháng 2, phường 11, quận 10; số 122/351, đường Ngô Gia Tự, quận 10; số 287/70 Nguyễn Đình Chiều, phường 5, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh).
Năm 1964, đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc. Để đảm bảo an toàn cho các đồng chí trong Bộ Chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã chọn Tam Đảo để xây dựng hệ thống hầm hào trú ẩn. Mặc dù thiết kế ở 5 vị trí khác nhau nhưng hệ thống hầm ở Tam Đảo được kết cấu, kiến trúc, kích thước gần giống nhau, tạo thành một thế trận phòng thủ vững chắc liên hoàn, đảm bảo an toàn bí mật cho các đồng chí lãnh đạo. Tại Hà Nội, để đảm bảo nơi làm việc của cơ quan Tổng hành dinh trong chiến tranh, Bộ Quốc phòng quyết định xây dựng nhà D67 với hệ thống hầm ngầm được thiết kế chịu được tên lửa và bom hạng nặng tại khu A, Sở Chỉ huy Bộ Quốc phòng (Hành cung thành cổ Hà Nội). Nơi đây đã diễn ra nhiều cuộc họp quan trọng của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đưa ra nhiều quyết định lịch sử có tính chiến lược đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến thắng lợi cuối cùng. Đặc biệt, tại nhà D67, từ ngày 18/12/1974 đến ngày 08/01/1975, Bộ Chính trị họp hội nghị mở rộng quyết định giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975.
Ở miền Nam, cùng với việc tập trung xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, Trung ương Đảng cũng chủ trương xây dựng các căn cứ địa, làm chỗ đứng chân của cách mạng. Trong tác phẩm “Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Nói đến đấu tranh vũ trang, đến xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng thì không thể không nói đến vấn đề căn cứ địa cách mạng. Đó là chỗ đứng chân của cách mạng, đồng thời là chỗ dựa để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh đấu tranh cách mạng, trên ý nghĩa đó, nó cũng là hậu phương của chiến tranh cách mạng”.
Thực hiện chủ trương của Đảng và đáp ứng yêu cầu phát triển của cuộc chiến tranh, một loạt các căn cứ, Sở chỉ huy chiến dịch với hệ thống hầm hào, lán trại được xây dựng công phu, khoa học từ những vật liệu sẵn có tại chỗ, tạo thành một hệ thống liên hoàn, đảm bảo an toàn, bí mật cho các cán bộ lãnh đạo cách mạng lần lượt được hình thành như: Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (còn gọi là R, căn cứ Chàng Riệc, căn cứ Phạm Hùng, căn cứ địa Bắc Tây Ninh) thành lập ngày 23/01/1961 tại Tây Ninh với ba phân khu: căn cứ Trung ương Cục miền Nam, căn cứ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và căn cứ Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; Căn cứ Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (còn gọi là Căn cứ Quân ủy Bộ Chỉ huy các Lực lượng vũ trang Quân giải phóng miền Nam Việt Nam; Rừng Chính phủ) thuộc xã Lộc Thành, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Căn cứ Sở Chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh tại Căm Xe, xã Minh Thạnh, huyện Bình Long (nay là xã Minh Tân, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương), tồn tại từ ngày 26 đến ngày 30/4/1975. Đây là nơi đóng quân của cơ quan chỉ đạo, điều hành toàn bộ diễn biến chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Có thể nhận thấy, trong 30 năm đấu tranh giành độc lập dân tộc (1945 – 1975), hệ thống hầm hào chiến đấu trở thành một trong những biểu trưng về nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trên cơ sở vận dụng hiệu quả các giá trị nghệ thuật quân sự của cha ông trong lịch sử, quán triệt sâu sắc đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam, vận dụng linh hoạt, sáng tạo giữa lý luận và thực tiễn, với bàn tay, khối óc, lòng anh dũng, quả cảm của quân và dân Việt Nam, một hệ thống hầm hào chiến đấu đã được xây dựng trên khắp các chiến trường, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đồng thời, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, góp phần bổ sung, hoàn thiện và làm phong phú thêm nghệ thuật quân sự Việt Nam thế kỷ XX.



