HÀM NGHI TRƯỜNG THÀNH QUA GIAN KHỔ

HÀM NGHI TRƯỜNG THÀNH QUA GIAN KHỔ
Lễ đăng quang của Hàm Nghi được tiến hành ngày 1-7-1884, tức là 1 tháng 25 ngày sau Hòa ước Giáp Thân (6-6-1774) xác nhận nền bảo hộ của Pháp đối với nước Nam, mà Nam triều không thông báo cho Khâm sứ Pháp biết nên Rê-na (Rheinart) không thừa nhận vua mới mà điện về Pháp xin chính phủ đối phó với nước Nam bằng một chính sách mới cương quyết hơn.
Tiếp được điện ấy, nội các Giuyn Phe-ri (Jules Ferry) liền hạ lệnh cho tướng Mi-ô phải một lữ đoàn đi Huế bắt buộc Nam triều làm lại lễ đăng quang để sứ giả Pháp tấn phong cho Hàm Nghi như sử Tầu trước kia, và sau đó sẽ kéo quân vào đóng ở Mang Cá.

Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường chưa đủ lực lượng, đành phải chấp nhận yêu cầu nói trên, nhưng một mặt hết sức đẩy mạnh phong trào phòng thủ kinh thành, mặt khác bí mật chuyển khí giới, lương thực châu báu ra căn cứ địa Tân Sở. Hơn nữa lợi dụng lúc
quân Pháp bị thua trận ở Lạng Sơn và nội các Giuyn Phe-ri đổ, Nam triều gửi công hàm cho Pháp yêu cầu rút quân Mang Cá và trả lại tiền thuế cho việc khai thác mỏ và buồn thuốc phiện. Các yêu cầu này cộng với công việc phòng thủ nói trên làm cho bọn xâm lược Pháp cương quyết thanh toán phái chủ chiến đang cầm quyền ở Huế, trước hết là Tôn Thất Thuyết. Tên đại tướng Đỡ Cuốc-xi mới được cử làm toàn quyển cả Bắc lẫn Trung kỳ quyết định tự mình đi Huế thực hiện nhiệm vụ này.
Ngày 1-7-1885, Đỡ Cuốc-xi từ Hải Phòng đi Huế với một lữ đoàn quân A-rập và 500 bộ binh. Đến nơi hắn liền cho mời các cơ mật đại thần sang tòa Khâm sứ bàn định nghi thức của cuộc gặp gỡ giữa vua Hàm Nghi và đại diện tối cao của chính phủ Pháp.
Tôn Thất Thuyết không chịu sang, Đờ Cuốc-xi đọa sẽ cho quân sang bắt,
Trước tình thế không thể trì hoãn, nửa đêm 4-8-1885 (đêm 22 sáng Ất Dậu), Tôn Thất Thuyết mở cuộc tấn công bất ngờ vào Mang Cá và đồn Pháp cạnh Tòa Khâm sứ, Nam quân đánh rất hăng hái, song vì vũ khíquá kém và thông tin liên lạc không chính xác nên chỉ mấy giờ sau, cuộc tấn công bị thất bại. Kinh thành Huế thất thủ. Cờ tam tài bay phấp phới trước Ngọ Môn. Tôn Thất Thuyết hạ lệnh tập hợp làn quân chực sẵn ở cửa
Chương Đức, rồi vào cung mời nhà vua và Hoàng Thái hậu lên kiệu tẩu thoát ngay kẻo giặc truy kích.
Hàm Nghi mới 13 tuổi sửng sốt nói: “Ta có đánh nhau với ai đâu mà phải chạy. Tôn Thất Thuyết liền rút gươm ra khiến quân lĩnh vực vua lên kiệu qua cửa Hữu ra khỏi Hoàng thành đi về phía Kim Long.
Đạo ngự có chừng hơn ngàn người phần đông là các quan đại thần, ông hoàng, bà chúa, già có, trẻ có, người đi kiệu, kẻ đi ngựa, người đi chân... Hoàng tử Chánh Mông cưỡi ngựa chạy nhanh quá, tiền vàng giất trong người rơi ra dọc đường. Có bà chúa ngồi ôm con trên kiệu khóc sướt mướt. Vua Hàm Nghi ngồi kiệu lâu mệt phải chuyển qua nằm võng.
Ra khỏi Hoàng thành từ tăng sáng mùng 4 tháng 7 năm 1775 chiều mùng 6 đạo ngư mới tới Quảng Trị. Các quan tỉnh Quảng Trị ra ngoài thành rước nhà vua và Hoàng thái hậu vào ngủ ở Hành cùng.
Chiều mồng 8 tháng 7 năm 1885 theo lệnh Từ Dụ Hoàng thái hậu các văn võ đại thần họp ở Hành cung Hàm Nghi lên ngai ngồi dự và hỏi: "Sao không thấy Nguyễn Văn Tường", thì Tôn Thất Thuyết đáp “Tâu, Nguyễn Văn Tường đã bỏ trốn vào Huế rồi". Nghe nói đến Huế, Từ Dụ Thái hậu liền khóc và ngỏ ý muốn trở về Huế. Nhiều đình thần và nhất là các bà đều tán thành ý kiến của Từ Dụ
Tôn Thất Thuyết đỏ mặt nói: "Ai trở về sẽ mang tiếng suốt đời đầu hàng giặc Pháp, nện chỉ tôi còn hơi thờ là còn đánh giặc Pháp".

Nhưng Từ Dụ Thái hậu nói:
“Những người tuổi già sức yếu đánh Pháp sao được.
Đem họ đi chỉ thêm vướng chân thôi",
Tôn Thất Thuyết suy nghĩ một lát rồi đề nghị chia đạo ngự làm hai đoàn: Một đoàn theo đức Từ Dụ gồm các hoàng thân và các quan lại già yếu hoặc đã mất ý chí chiến đấu, hoặc còn có nghĩa vụ gia đình không thể nào thiếu mình được, và những phụ nữ không muốn đi lên Tân Sở. Một đoàn gồm tất cả các quan văn võ và những phụ nữ muốn đi theo cha mẹ hoặc chồng con lên Tân Sở. Đề nghị ấy được mọi người đồng ý.
Sáng sớm mồng 9 tháng 7 sau khi bái biệt Từ Dụ thái hậu và hai bà Trang Ý, Học Phỉ, nhà vua lên đường ngay và chiều tối ngày hôm đó thì đến Tân Sở. Thành này xây trên một cao nguyên phía Tây là nước Lào, phía Đông là bãi cát khô cần thuộc tỉnh Quảng Trị, cây cối thưa thớt cần cỗi, mùa hè gió Tây thổi bụi như mù, nóng như đốt, Hàm Nghi cả ngày đăm chiêu, buồn rầu, và sau 3 ngày ở Tân Sỡ, nhà vua đòi Tôn Thất Thuyết chó người đưa về Huế. Thuyết nghiêm sắc mặt nói:
- Bệ Hạ muốn về Huế thì cho người đưa Ngài về, nhưng...
- Nhưng như thế nào? - Hàm Nghi mỉm cười hỏi.
Nhưng xin Ngài để cái đầu lại dây đã!
Từ đấy, nhà vua 13 tuổi trở nên bình tĩnh, biết suy nghĩ và hai hôm sau, khi Tôn Thất Thuyết xin phô chuẩn một tờ chiếu kể tội giặc Pháp và kêu gọi nhân dân nổi dậy Cần Vương, Hàm Nghi đã đọc đến hai lần rồi mới phê chuẩn; và phê rồi còn nói:
- Bây giờ Trẫm mới hiểu vì sao khanh không muốn Trẫm về vì Huế còn bị giặc chiếm đóng.
- Vậy, nếu công cuộc kháng chiến đòi hỏi phải đi vào sống trong rừng sâu, Ngài có đi không?
- Đi đâu thì đi, sống thế nào cũng được, miễn là đuổi cho được giặc Pháp ra khỏi đất nước.
Thế là ngay sáng hôm sau, Tôn Thất Thuyết rời Tân Sở, đưa nhà vua quay về Cam Lộ rỗ tay phải đi ra hướng Bắc, nhưng mới đi được hai ngày thì có tin báo tỉnh lỵ Quảng Bình đã bị quân Pháp chiếm đóng. Đạo ngự lại phải quay trở lại đường Cam Lộ - Tân Sở rồi đi ngược lên Mai Lĩnh qua Lào.
Trên đất Lào đạo ngự đi đến địa phận tỉnh Ma-hao-say thì phải dừng lại 15 ngày vì mưa to, lũ lớn kéo dài.
Đến ngày lên đường tiếp tục đi thì trên 500 người ra đi từ Hành cung Quảng Trị, nay chỉ còn 200 người cả quan lẫn lính với một cái kiệu trong đó Hàm Nghi đang lên cơn sốt, 6 cái võng, 1 con ngựa, 3 con voi và 50 gánh hành lý. Thế là trong không đầy 1 tháng đã có 300 người bỏ xác đọc đường. Cho nên, Tôn Thất Thuyết quyết định tăng thêm khẩu phần hàng ngày cho quân lính và khuyến khích mọi người đi cho mau tới ngày vượt đèo Quy Hợp sang địa phần Hà Tĩnh để về Ấn Sơn là nơi Tôn Thất Thuyết dự định đặt đại doanh của nhà vua.
Bốn ngày sau, khí đang từ trên đỉnh đèo Quy Hợp đi xuống, thấy từ dưới xa đi đến một đoàn người vác cỡ có chữ "Hà Tĩnh sơn phòng chánh sử", ai cũng reo mừng và nhiều người reo rồi lại trào nước mắt ra!
Thật là mừng mừng tủi tủi biết bao nhiêu tình! Nhưng cũng còn phải đi mấy ngày nữa mới đến Ấn Sơn thuộc huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh. Ở đây đã có một thành đất nhỏ mới xây, làm trụ sở cho quan sơn phòng của tỉnh, nay lại thêm đại doanh của nhà vua.
Đến Ăn Sơn, cả đạo ngự, từ vua quan đến bình lính, ai cũng phấn khởi khi được biết chiếu Cần Vương đã khơi lên một phong trào chống Pháp rất mạnh ở hầu khắp Trung kỳ và Bắc kỳ. Riêng ở Hà Tĩnh, Lê Ninh và Ấm Võ đã lãnh đạo thân hào thân sĩ và nhân dân
chiếm lĩnh thành, giết Lê Đại, bắt Trịnh Văn Báu là những bọn chống lại phong trào Cần Vương, tiếng gọi chống Pháp tung ra là những xích mích xung đột giữa người Kinh và người Thượng tan như mây khói. Cụ thể trước mắt là được tin vua Hàm Nghi đến Ấn Sơn, Trương Quang Ngọc, em ruột viên quan đã từng bị triều đình đày lên làng Vò, liền mang một đội quân, Mường rất tỉnh nhuệ ra hàng..
Sau khi hỏi chuyện Trương Quang Ngọc và được biết y mới 25 tuổi, rất giỏi võ, nhất là môn bắn nỏ, rất am hiểu miền rừng núi bí hiểm của Quảng Bình, Hà Tĩnh giáp với Lào, Tôn Thất Thuyết liền phong cho Ngọc chức Hiệp quản và chọ được dự vào đoàn quân hộ giá.
Được tin dùng, Trương Quang Ngọc chỉ chờ có dịp là trổ tài. Từ cuối tháng 12 năm 1885 đến cuối tháng giêng năm 1886, Ngọc đã giết được hàng trăm quân Pháp và hai tên chỉ huy là Huy-gô và Ca-muýt bằng ba trận phục kích bắn tên tẩm thuốc độc.
Sau ba trận thất bại này, bọn thực dân Pháp biết việc dùng Đồng Khánh để dụ dỗ em ruột mình là Hàm Nghi về Huế để anh em cùng nhau chung hưởng lợi lộc bù nhìn chỉ là ảo tưởng. Chúng chủ trương dùng, bạo lực bắt cho được Hàm Nghi..
Trước hết bằng cách tăng cường lưới gián điệp, giặc Pháp biết được rằng Hàm Nghi chỉ quanh quẩn trong
mấy khu rừng tiếp giáp 3 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Khăm Muội (Lào). Tiếp theo, chúng xây dựng chung quanh khu căn cứ ấy một hệ thống đồn lớn, đồn nhỏ, đồn nào cũng gồm một số cả Pháp lẫn ngụy do một hoặc nhiều sĩ quan Pháp chỉ huy.
Cuối cùng, chúng mở những cuộc càn quét, khi thì nhiều vùng một lúc, không thì hết vùng này đến vùng khác. Sau hơn một năm cần đi quết lại khắp khu căn cứ, trận nào giặc Pháp cũng trở về tay không. Mãi đến giữa năm 1887, chúng mới thu được một chiến lợi phẩm đầu tiên có giá trị là bộ bàn đèn hút thuốc phiện của Trương Quang Ngọc không kịp mang theo khi chỗ trú ẩn của anh ta bị đột kích bất ngờ.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Biết Ngọc là người bảo vệ đắc lực nhất của Hàm Nghỉ, tên trưởng đồn Minh Cầm là Mu-lơ bèn gửi trả bàn đèn cho Ngọc đồng thời với một hộp thuốc phiện và một bức thư khuyên Ngọc hoặc đem Hàm Nghi ra hàng hoặc giúp sức cho việc bắt Hàm Nghi thì sẽ được trọng thường.
Trong thư trả lời Mu-lô, Ngọc hứa sẽ cố gắng nhưng phải mất nhiều thời gian mới thực hiện được, vì Hàm Nghỉ tuy nhỏ tuổi nhưng đối xử rất tốt với đồng bào địa phương, bất cứ ai tặng gì cũng trả tiền đầy đủ và có gì hiếm ngon, cũng thường chia xẻ với đồng bào nên nhân dân nhất là nhân dân Mường coi nhà vua như một vị thần thiêng liêng cần được bảo vệ đến cùng.
Có lẽ cũng vì không nỡ phản bội một ông chủ tốt như thế nên mặc dù đã nhận 12 hộp thuốc phiện của giặc Pháp (mỗi tháng một hộp), Ngọc vẫn chưa có một hành động cụ thể nào? Vì sao đã hai tháng nay Pháp không gửi thuốc phiện cho nữa? Phải chăng bọn Tôn Thất Đạm, Tôn Thất Thiệp đã biết ý đồ phản bội của mình nên không cho hầu cận nhà vua nữa?
Giữa lúc Trương Quang Ngọc đang bị bao nhiêu câu hỏi như vậy dày vò, không có lối thoát thì được tên Nguyễn Đình Trình, suất đội trong đội bảo vệ của Hàm Nghi đến thăm và cho biết rằng: Y bị Tôn Thất Thiệp nghi ngờ có ý phản bội định mang chém, nên y đã đến đồn Đống Ca xin hàng, được đồn trưởng là Bu-lăng-giê (Boulangier) tiếp rất tử tế và nhờ trao ông Ngọc cái thư này...
Sau khi đọc thư của Bu-lăng-giê, Ngọc liền cùng Trình đến nhận chỉ thị của tên đồn trường này hai ngày sau, cụ thể là 10 giờ đêm ngày mồng Một tháng 11 năm 1888, Ngọc và Trinh đã dẫn 100 lính Mường vào vậy cái lều tranh cuối cùng của Hàm Nghi trên bờ khe Tá Bào. Nghe ngoài có tiếng động, hai người chạy ra bị Ngọc đâm chết ngay: đó là quan thống chế Nguyễn Thúy và con trai của ông, 45 tuổi, giữ chức tham biện nội các, Tôn Thất Thiệp, con út của Tôn Thất Thuyết cầm gươm nhây ra cũng bị một lính Mường phống một ngọn giáo vào ngực chết,
Biết mình bị phản, vua Hàm Nghi bước ra cầm gươm chỉ vào mặt Trương Quang Ngọc nói: "Mi giết ta đi còn hơn là mang ta nộp cho Tây".
Nhưng Hàm Nghi chưa nói dứt lời thì một người lính Mường khác nhảy vào giật gươm của nhà vua và ôm lấy ngang lưng vua vác lên bỏ vào võng khiêng xuống thuyển.
Thế là Hàm Nghi đã bị thực dân Pháp bất lúc mới 17 tuổi. Ngày 14 tháng 11 năm 1888, Hàm Nghi được đưa về Thuận Bài bằng thuyền.
Khi nhà vua từ dưới thuyển bước lên, quân đội Pháp do một thiếu tá chỉ huy cử nhạc và bồng súng chào mừng thì Hàm Nghi liền kéo khăn che mặt lại. Đến khi viên thiếu tá dọc lời chúc mừng thì vua nói: “Tôi không dám nhận những lời chúc mừng của ông vì tôi chỉ là bề tối của vua Hàm Nghi. Vua chúng tới hiện ở trong rừng. Nếu tôi không bị ốm nặng thì tôi đã tẩu thoát được với nhà vua rồi".
Được tin Hàm Nghi tới Thuận Bài, các quan lại ở địa phương đến bái tạ thì nhà vua giả làm như chẳng nhân biết ai cả. Nhưng đến lúc thấy trong đám người đó có ông Nguyễn Thuận, là thầy học cũ của mình thì Hàm Nghi lại vái chào ngay một cách tự phát. Từ những phút ấy, bọn Pháp có mặt mới tin là chúng đã nắm chắc trong tay ông vua bé nhỏ mà to gan đã làm cho quân đội Pháp tốn không biết bao nhiêu xương máu trong gần 4 năm trời.
Từ Thuận Bài, Hàm Nghi được đưa về cửa Thuận An khi hằng võng khi bằng thuyền.
Tại Thuận An, khi khẩm sứ Rê-na và các cơ mật đại thần đến chào thì lúc đầu Hàm Nghi cảo ốm không tiếp. Sau vì nể những người phục vụ mình rất tận tình từ ngày bị hắt, năn nỉ nhiều quá nhà vua phải tiếp khâm sứ Rê-na, nhưng tỏ ra lạnh nhạt. Khi Rê-na cho biết Hoàng thái hậu đang ốm và hỏi: “Nếu nhà vua có muốn thâm, tôi sẽ cho tàu đến Huế đón ra đây” thì Hàm Nghi đã đáp:
“Tôi thân đã tù, nước đã mất, còn dám nghĩ chỉ đến cha mẹ, anh em, chị em nữa”. Nói thế rồi Hàm Nghi cáo từ, lánh vào phòng ngủ...
Từ Thuận An, Hàm Nghi được đưa bằng tàu biển qua thành phố An-giê (Alger) thủ đô nước An-giê-ri, một thuộc địa Pháp nằm ở trên bờ Địa Trung Hải. Đến đây Hàm Nghi được đưa về một biệt thự tại làng En-bi-a (Elbiar) ngoại ô An-giê



