Bài viết

HÁN VĂN QUẢNG

Ninh Bình03/06/2026Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy (Đoàn phường Hoa Lư)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trận đánh của Phi đội Quyết thắng vào sân bay Tân Sơn Nhất tháng 4/1975 là một mốc son trong lịch sử vẻ vang của lực lượng Không quân nhân dân Việt Nam.Với tinh thần “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, quyết thắng” chỉ sau 6 ngày luyện tập, chuyển loại máy bay khẩn trương, chiều 28/4/1975, Phi đội Quyết thắng gồm 4 phi công của Trung đoàn 923 là Nguyễn Văn Lục, Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Hoàng Mai Vượng và phi công Nguyễn Thành Trung, Trần Văn On, sử dụng máy bay A37 tập kích sân bay Tân Sơn Nhất. Cuộc tập kích đã phá hủy 24 máy bay, làm cho tinh thần của Mỹ-ngụy hoảng loạn, thúc đẩy nhanh chóng quá trình tan rã của ngụy quyền Sài Gòn.Các phi công Nguyễn Thành Trung, Nguyễn Văn Lục, Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Hoàng Mai Vượng đã được phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Phi công Trần Văn On được tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất.

Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hán Văn Quảng là một trong sáu phi công của Phi đội Quyết thắng tham gia ném bom sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28/4/1975. Đây là một trong những trận đánh nổi tiếng của Không quân nhân dân Việt Nam, góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. 50 năm sau ngày đất nước thống nhất, những ký ức hào hùng về trận không kích sân bay Tân Sơn Nhất năm 1975 vẫn vẹn nguyên trong hồi ức của người cựu phi công ấy.

"Bằng giá nào cũng phải có tiếng bom ở sân bay Tân Sơn Nhất"Đã 50 năm trôi qua sau Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, Đại tá Hán Văn Quảng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, vẫn nhớ lại rõ ràng thời khắc lịch sử khi cùng đồng đội ném bom, tấn công sân bay Tân Sơn Nhất, thành phố Sài Gòn vào ngày 28/4/1975.Bằng giọng nói trầm ấm, Đại tá Hán Văn Quảng hào hứng kể cho chúng tôi về thời khắc lên đường nhận nhiệm vụ đặc biệt ngay dịp cuối tháng 4 năm 1975: “Chúng tôi được nhận nhiệm vụ vào miền nam ngày 22/4/1975, xuất phát từ sân bay Thọ Xuân (Thanh Hóa). Khi đó, tôi cũng bỡ ngỡ, lo lắng nhưng xen lẫn tự hào, bởi có cơ hội cùng đồng đội tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Vào đến sân bay Đà Nẵng, cả đội mới biết được cấp trên giao nhiệm vụ chuyển sang lái máy bay A-37 mà ta mới thu được của địch, chuẩn bị cho một trận đánh lớn bằng chính loại máy bay này”.Trước đó, trong chiến đấu, Hán Văn Quảng chỉ bay máy bay MiG-17. Dòng máy bay này có cự ly bay rất ngắn và chỉ đánh trên địa bàn miền bắc, không đi xa được.Đại tá Hán Văn Quảng kể: “Khi gặp, thủ trưởng đã giao nhiệm vụ cho chúng tôi là phải ‘thần tốc làm chủ máy bay, làm sao đến trước ngày 30/4 là phải làm nhiệm vụ được’. Ngày 22/4, chúng tôi vào đến Đà Nẵng, hôm sau bắt đầu tìm hiểu về máy bay A-37, nghiên cứu, rồi lên học buồng lái. Cả đội đều có tinh thần phấn khởi, nhưng cũng xen lo lắng vì không biết có hoàn thành được nhiệm vụ trong thời gian ngắn như thế. Chúng tôi lao vào học, học hỏi anh Trần Văn On (một phi công của quân đội Sài Gòn đã được giáo dục, cải tạo), suy nghĩ tìm mọi cách để bay được trên máy bay của địch”.Lệnh của cấp trên là bất kể bằng giá nào cũng phải có tiếng bom ở sân bay Tân Sơn Nhất.

Đại tá Hán Văn Quảng

Một khó khăn là ký hiệu toàn bộ thiết bị trên máy bay đều bằng tiếng Anh, trong khi các phi công của ta không biết ngoại ngữ này. Sau một hồi hội ý, đề xuất được đưa ra là Nguyễn Thành Trung, Trần Văn On dịch chữ trên các núm, nút công tắc ra tiếng Việt, sau đó Hán Văn Quảng viết ra giấy, cắt thành những mảnh đề-can nho nhỏ dán đè lên bảng điều khiển của từng công tắc, đèn báo, đồng hồ… trong buồng lái để dễ sử dụng.

Theo Đại tá Hán Văn Quảng, cả đội chỉ có khoảng hai ngày rưỡi học buồng lái (từ chiều ngày 22/4 đến hết ngày 24/4) nghiên cứu các tính năng, kỹ-chiến thuật của máy bay. Đến ngày 25/4, các phi công bắt đầu vào bay thực tế. Trải qua hơn 2 ngày thực hành tập luyện bay, mỗi anh em trong phi đội chỉ được bay từ một đến hai chuyến bằng máy bay A-37, do chỉ có một máy bay tốt mà huấn luyện cho cả 5 phi công.

Chia sẻ về ý đồ chiến thuật cho cuộc tấn công vào sân bay Tân Sơn Nhất, Đại tá Hán Văn Quảng cho biết, tiến trình giải phóng Sài Gòn của quân ta diễn ra rất nhanh chóng và thần tốc. Chiều ngày 28/4/1975, Tư lệnh Lê Văn Tri mới giao nhiệm vụ cho chúng tôi và bàn phương án tác chiến, cũng đã dự kiến địch đang tập trung các loại máy bay tiêm kích ở các sân bay Tân Sơn Nhất, Biên Hòa, Cần Thơ. Các phi công cũng chuẩn bị phương án chọn thời điểm tấn công lúc chiều tối là thời gian thay ban nên quân địch sẽ mất cảnh giác, không kịp có phương án đối phó ngay.

Phi đội Quyết thắng sau trận đánh trở về sân bay Thành Sơn (Phan Rang), chiều 28/4/1975. (Ảnh tư liệu)

“Tư lệnh đã giao nhiệm vụ phi đội chia thành 2 tốp. Tốp 1 có ba máy bay của anh Nguyễn Thành Trung, Từ Đễ và Nguyễn Văn Lục trong Phi đội bất kể bằng giá nào cũng phải ném được bom vào khu đỗ máy bay của sân bay Tân Sơn Nhất. Còn tốp 2 gồm 2 máy bay của anh Vượng với anh On và Hán Văn Quảng làm nhiệm vụ tiêm kích bay đằng sau sẵn sàng, nếu địch xuất kích lên tấn công ta thì 2 máy bay sau sẽ cắt bom tiến hành không chiến để bảo vệ cho ba máy bay tốp 1. Lệnh của cấp trên là bất kể bằng giá nào cũng phải có tiếng bom ở sân bay Tân Sơn Nhất”, Đại tá Hán Văn Quảng nói.

Như vậy, đội hình tấn công sân bay Tân Sơn Nhất có phi công Nguyễn Thành Trung bay số 1, có vai trò dẫn đường bởi ông là người thông thuộc địa hình khu vực tác chiến; Từ Đễ bay số 2; Nguyễn Văn Lục bay số 3; Hoàng Mai Vượng với Trần Văn On bay số 4 trên một máy bay; và Hán Văn Quảng bay số 5.

Việc lựa chọn mục tiêu đánh vào Sài Gòn có tới sáu địa điểm gồm: Dinh Độc Lập, Đại sứ quán Mỹ, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Tổng nha Cảnh sát ngụy, Kho xăng Nhà Bè, sân bay Tân Sơn Nhất. Sau khi thảo luận, phi đội đề nghị cấp trên cho phép tấn công vào sân đỗ máy bay Tân Sơn Nhất, bởi đây là mục tiêu diện rộng, dễ nhận biết, dễ phát hiện từ xa, thuận lợi cho việc tấn công. Đặc biệt, khi đánh trúng mục tiêu này sẽ gây tiếng nổ, cháy lớn làm cho địch náo loạn và hoảng sợ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn