Bài viết

HANG LÀNG LÒ: BẾP ĂN VÀ DÒNG SUỐI NGẦM NUÔI BỘ ĐỘI VỊ XUYÊN

Giữa chiến trường Vị Xuyên khốc liệt, khi những cao điểm 685, 772 và dãy núi biên cương liên tục rung chuyển bởi đạn pháo, có một nơi không trực tiếp được nhắc đến bởi những trận xung phong nhưng lại góp phần duy trì sức chiến đấu của bộ đội Việt Nam. Đó là hang Làng Lò, nơi những bếp cơm hoạt động trong lòng núi đá, bên dòng suối ngầm, để từng nắm cơm, từng bi đông nước theo chân người lính vận tải đến các trận địa tiền tiêu.

Lào Cai30/10/2026Lê Thị Minh (phường Tây Tựu)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
HANG LÀNG LÒ: BẾP ĂN VÀ DÒNG SUỐI NGẦM NUÔI BỘ ĐỘI VỊ XUYÊN

HANG LÀNG LÒ: BẾP ĂN VÀ DÒNG SUỐI NGẦM NUÔI BỘ ĐỘI VỊ XUYÊN

KÝ SỰ LỊCH SỬ | MẶT TRẬN VỊ XUYÊN 1984–1989

Giữa chiến trường Vị Xuyên khốc liệt, khi những cao điểm 685, 772 và dãy núi biên cương liên tục rung chuyển bởi đạn pháo, có một nơi không trực tiếp được nhắc đến bởi những trận xung phong nhưng lại góp phần duy trì sức chiến đấu của bộ đội Việt Nam. Đó là hang Làng Lò, nơi những bếp cơm hoạt động trong lòng núi đá, bên dòng suối ngầm, để từng nắm cơm, từng bi đông nước theo chân người lính vận tải đến các trận địa tiền tiêu.

image.png

Ảnh 1. Cựu chiến binh trở lại khu vực hang Làng Lò ở chiến trường Vị Xuyên, nơi từng che chở và phục vụ hàng trăm cán bộ, chiến sĩ. Ảnh tư liệu: Hữu Nghị – Quý Đoàn, Báo Dân trí, 2016.

Hang đá giữa chiến trường khốc liệt

Tháng 4 năm 1984, chiến sự trên tuyến biên giới Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên khi ấy, bước vào giai đoạn đặc biệt căng thẳng. Quân Trung Quốc tiến công, chiếm giữ trái phép nhiều điểm cao thuộc lãnh thổ Việt Nam. Những địa danh như 1509, 772, 685 trở thành các vị trí tranh chấp quyết liệt, nơi bộ đội Việt Nam phải chiến đấu trong điều kiện địa hình hiểm trở và hỏa lực đối phương dày đặc.

Ngày 30 tháng 4 năm 1984, Sư đoàn 356 được lệnh cơ động từ khu vực Bảo Thắng, Lào Cai, sang mặt trận Vị Xuyên. Cuộc hành quân hơn 500 kilômét đưa những người lính từ hậu cứ đến một chiến trường mà công tác bảo đảm hậu cần cũng khẩn trương chẳng kém nhiệm vụ chiến đấu.

Trong hệ thống núi đá ở khu vực Thanh Thủy, hang Làng Lò trở thành một địa điểm tập kết và trú quân quan trọng.

Nằm gần khu vực cao điểm 685, hang có không gian tự nhiên tương đối rộng, được nhiều đơn vị sử dụng trong quá trình triển khai nhiệm vụ. Từ đây, bộ đội có thể tiếp cận những tuyến đường dẫn lên các vị trí chiến đấu phía trước.

Nếu các cao điểm là nơi trực tiếp diễn ra những trận đánh giành giật từng mỏm đá, thì hang Làng Lò là một trong những địa điểm phía sau trận tuyến ấy, nơi con người, lương thực, nước uống và nhiều loại vật chất phục vụ chiến đấu được tập trung trước khi chuyển lên chốt.

Giữa những trận pháo kích, vách núi trở thành một lớp che chắn tự nhiên. Nhưng hang đá không có nghĩa là một nơi hoàn toàn an toàn. Các lối tiếp cận, cửa hang và đường vận chuyển vẫn nằm trong không gian chiến trường đầy nguy hiểm.

Chính tại nơi ấy, một hoạt động âm thầm nhưng thiết yếu được duy trì: nuôi dưỡng bộ đội.

Dòng suối ngầm – nguồn nước giữa lòng núi

Điểm đặc biệt của hang Làng Lò là dòng suối ngầm chảy dọc theo lòng hang. Theo hồi ức của Đại tá Nguyễn Văn Thành, nguyên Chủ nhiệm Hậu cần Sư đoàn 356, dòng nước này chảy từ khu vực suối Cụt, dưới chân điểm cao 772, về hang Làng Lò.

Trong hoàn cảnh chiến tranh, nguồn nước tự nhiên ấy có ý nghĩa đặc biệt đối với đời sống của những người lính.

Nước được sử dụng cho việc nấu cơm, ăn uống, đánh răng, tắm giặt và các sinh hoạt hằng ngày. Sự hiện diện của dòng suối giúp các lực lượng trú quân có điều kiện duy trì hoạt động khi việc vận chuyển nước từ tuyến sau lên phía trước rất khó khăn.

Tuy nhiên, thuận lợi ấy cũng đi kèm những thách thức.

Khi nhiều đơn vị cùng tập trung trong hang, nhu cầu sử dụng nước tăng lên, trong khi điều kiện sinh hoạt và vệ sinh ở chiến trường còn nhiều hạn chế. Không gian hang đá ẩm thấp, đông người; công tác giữ gìn vệ sinh nguồn nước và tổ chức sinh hoạt luôn là vấn đề cần quan tâm.

Dẫu vậy, đối với bộ đội đang làm nhiệm vụ giữa núi cao, nơi không phải vị trí nào cũng có nguồn nước thuận tiện, dòng suối ngầm vẫn là một điều kiện hậu cần rất quý giá.

Bởi nước không chỉ để giải khát. Nước còn dùng nấu cơm, chế biến thực phẩm và chuẩn bị những phần ăn mang lên trận địa.

Từ lòng núi, dòng suối ấy đã góp phần duy trì một nhịp sống đặc biệt giữa chiến tranh: nhịp sống của những người lính nuôi quân.

Những bếp cơm trong lòng núi đá

Những ngày đầu Sư đoàn 356 đến Vị Xuyên, công tác bảo đảm ăn uống gặp nhiều khó khăn. Lương thực, thực phẩm dự trữ chưa kịp chuyển đầy đủ từ hậu cứ sang. Nguồn cung theo tiêu chuẩn chủ yếu là gạo, muối, một số loại mắm, chất béo và gia vị.

Trong điều kiện ấy, lực lượng hậu cần phải tổ chức nấu ăn bằng những phương tiện và nguồn thực phẩm hiện có.

Theo lời kể của người trực tiếp phụ trách công tác hậu cần sư đoàn, mỗi buổi chiều trong hang Làng Lò có hàng chục bếp nấu cơm.

Đó là một hình ảnh rất khác với những gì thường được nhắc tới khi nói về chiến trường Vị Xuyên.

Bên ngoài, trên những điểm cao, bộ đội chiến đấu trong tiếng súng pháo. Bên trong hang, các chiến sĩ nuôi quân lo chuẩn bị những phần cơm cho đồng đội.

Cơm được nấu rồi nắm lại để thuận tiện mang đi. Nước uống cũng được chuẩn bị cùng với lương thực. Khi trời tối, những phần ăn ấy được chuyển lên các vị trí tiền tiêu, phục vụ bữa tối và cả những bữa ăn tiếp theo.

Chi tiết này cho thấy sự gian nan của việc bảo đảm hậu cần tại một chiến trường núi đá.

Không phải cứ đến giờ ăn là người lính trên chốt có thể trở về bếp. Trái lại, việc phòng ngự ở các điểm cao đòi hỏi bộ đội phải bám giữ trận địa. Bữa ăn vì thế phải tìm đường đến với người lính.

Một nắm cơm có thể không mang vẻ ngoài đặc biệt. Nhưng trong hoàn cảnh chiến đấu, để có được nắm cơm ấy là cả một quá trình tổ chức, chế biến và vận chuyển.

Người lính nuôi quân ở hang Làng Lò không trực tiếp xung phong đánh chiếm điểm cao. Công việc của họ là giữ cho những người đang chiến đấu có đủ điều kiện để tiếp tục bám trụ.

Đó cũng là một nhiệm vụ chiến đấu, được thực hiện bằng những bếp lửa âm thầm.

Những chuyến vận tải vượt qua hiểm nguy

Từ hang Làng Lò lên các cao điểm không phải là một hành trình dễ dàng.

Địa hình dốc, nhiều vách đá, đường đi hiểm trở, trong khi pháo kích có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Có những đoạn đường chỉ có thể tiếp cận thuận lợi hơn khi trời tối, người lính phải di chuyển qua giao thông hào, leo vách đá hoặc sử dụng thang dây.

Một tư liệu ghi nhận cụ thể hành trình ấy xuất hiện trong hồi ức của ông Bùi Thuận Hóa, nguyên cán bộ Cục Tuyên truyền đặc biệt, Tổng cục Chính trị.

Cuối tháng 7 năm 1987, khi thực hiện nhiệm vụ tại mặt trận Vị Xuyên, ông cùng đồng đội đi qua khu vực suối Thanh Thủy, vào nghỉ tại hang Làng Lò rồi tiếp tục di chuyển trong đêm lên các chốt thuộc khu H.

Tại H1, đoàn công tác được dùng bữa với thịt hộp, dưa giá hộp và cả lòng lợn do lực lượng vận tải vừa mang từ hang Làng Lò lên.

Một chi tiết nhỏ nhưng phản ánh rõ hoạt động hậu cần vẫn được duy trì trong điều kiện chiến đấu.

Đằng sau bữa ăn trên chốt là những chuyến gùi hàng âm thầm. Người vận tải không chỉ mang lương thực mà còn góp phần kết nối các đơn vị đóng quân giữa những địa hình bị chia cắt.

Mỗi chuyến đi an toàn đồng nghĩa với việc thêm một phần nhu yếu phẩm đến được với chiến sĩ.

Với những người lính bám chốt dài ngày, sự tiếp tế thường xuyên có ý nghĩa đối với cả sức khỏe và tinh thần.

image.png

Ảnh 2. Các cựu chiến binh trở lại bên trong hang Làng Lò, ôn lại những năm tháng chiến đấu và công tác tại mặt trận Vị Xuyên. Ảnh tư liệu: Hữu Nghị – Quý Đoàn, Báo Dân trí, 2016.

Từ những bếp ăn đến cả một hệ thống hậu cần

Công việc nuôi quân ở hang Làng Lò không tồn tại riêng lẻ mà là một bộ phận trong hệ thống hậu cần của Sư đoàn 356.

Từ cuối năm 1984, đơn vị từng bước tổ chức thêm các nguồn cung cấp thực phẩm để cải thiện đời sống bộ đội.

Những chuyến xe từ Vị Xuyên trở về hậu cứ Bảo Thắng mang theo nhiệm vụ thu mua, tiếp nhận và vận chuyển thực phẩm. Cá được đánh bắt, sơ chế, ướp muối rồi đưa tới chiến trường. Rau xanh, thực phẩm tươi cũng được bổ sung qua nhiều hình thức.

Tại làng Pinh, xã Thanh Thủy, từ năm 1985, sư đoàn tổ chức khu dự trữ lợn, cơ sở làm đậu phụ và lực lượng chuyên trồng rau.

Theo hồi ức của Đại tá Nguyễn Văn Thành, khu chăn nuôi tại đây thường duy trì khoảng 50 đến 60 con lợn, còn các cối xay đậu có khả năng cung cấp hàng chục kilôgam đậu phụ mỗi ngày.

Những con số ấy phản ánh nỗ lực xây dựng nguồn cung thực phẩm tại chỗ, giảm bớt khó khăn do khoảng cách xa hậu cứ và điều kiện vận tải phức tạp.

Ngoài nguồn tự tổ chức, sự hỗ trợ của các địa phương, nông trường và các tổ chức quần chúng cũng góp phần cải thiện đời sống bộ đội.

Trong hoàn cảnh đó, hang Làng Lò và những điểm tập kết phía trước trở thành một phần của mạng lưới hậu cần, nơi các nguồn cung từ tuyến sau được chuyển tiếp đến đơn vị chiến đấu.

Không phải mọi chuyến hàng đều có thể đi thẳng lên cao điểm bằng xe cơ giới. Ở đoạn đường cuối, sức người vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Nhờ sự phối hợp giữa hậu phương, các cơ sở hậu cần và lực lượng vận tải, những bữa ăn trên trận địa tiếp tục được duy trì qua các giai đoạn căng thẳng của cuộc chiến.

Nơi đón những người trở về từ trận địa

Hang Làng Lò không chỉ gắn với bếp cơm và nước uống.

Theo những cựu chiến binh trở lại chiến trường trong phóng sự ảnh năm 2016, hang còn là nơi tiếp nhận các chiến sĩ bị thương được cáng từ phía trước về để sơ cứu trước khi chuyển xuống tuyến sau.

Như vậy, cùng một không gian núi đá đã chứng kiến nhiều hoạt động khác nhau của đời sống chiến trường: trú quân, tiếp tế, cứu chữa thương binh và chuẩn bị lực lượng cho nhiệm vụ tiếp theo.

Có người từ đây lên chốt. Có người sau trận đánh được đồng đội đưa trở về trong tình trạng bị thương. Cũng có những người đã mãi mãi nằm lại trên các sườn núi Vị Xuyên.

Đối với những chiến sĩ từng sống và làm nhiệm vụ tại hang Làng Lò, ký ức về nơi này không chỉ có tiếng pháo hay những cuộc hành quân.

Đó còn là ký ức về đồng đội, về gian khổ trong sinh hoạt, về những bữa cơm hiếm hoi giữa chiến trường và tình cảm gắn bó của những con người cùng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên giới.

Bởi một đơn vị quân đội không chỉ được duy trì bằng vũ khí, đạn dược mà còn bằng những điều kiện sống thiết yếu nhất.

Phía sau sự kiên cường trên chốt có đóng góp bền bỉ của những người làm nhiệm vụ bảo đảm đời sống bộ đội.

Dòng suối còn đó, đồng đội không quên

Sau chiến tranh, những người lính năm xưa trở về cuộc sống đời thường. Nhiều cựu chiến binh đã tìm lại hang Làng Lò trong những chuyến trở về Vị Xuyên để tưởng nhớ đồng đội.

Các bức ảnh ghi lại vào tháng 7 năm 2016 cho thấy những người lính đã bạc tóc đứng bên cửa hang, cùng nhau ôn lại những năm tháng chiến đấu.

Thời gian phủ màu xanh lên những dãy núi từng bị bom đạn tàn phá. Nhưng lịch sử của mảnh đất này vẫn hiện diện trong những chứng tích chiến trường và ký ức của người trở về.

Ngày nay, khi nhắc đến Vị Xuyên, người ta thường nhớ tới những trận chiến khốc liệt trên cao điểm 772, 685, 1509 hay những địa danh mang tên gọi ám ảnh như “Lò vôi thế kỷ”.

Hang Làng Lò nhắc chúng ta nhớ đến một phương diện khác của cuộc chiến: sự hy sinh thầm lặng của lực lượng hậu cần.

Giữa những năm tháng cam go, để giữ vững trận địa, bộ đội không chỉ cần lòng dũng cảm mà còn cần nước uống, lương thực, những bữa ăn được chuẩn bị và chuyển đến đúng lúc.

Dòng suối ngầm trong hang Làng Lò từng góp phần đáp ứng nhu cầu ấy. Những bếp cơm trong lòng núi từng giúp người lính có thêm sức lực để tiếp tục nhiệm vụ.

image.png

Ảnh 3. Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên, nơi tưởng niệm và an nghỉ của những người đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Ảnh tư liệu: Báo Dân trí, 2020.

Lịch sử chiến tranh được viết nên bởi những trận đánh, những quyết định của người chỉ huy và sự chiến đấu kiên cường của quân đội. Nhưng lịch sử ấy cũng được góp phần tạo nên từ những việc tưởng như bình dị: gùi một bao gạo, chuẩn bị một bi đông nước, nấu một nồi cơm hay vượt đường hiểm trở để mang lương thực tới đồng đội.

Hang Làng Lò vì thế xứng đáng được ghi nhớ không chỉ như một địa điểm trú quân trên chiến trường Vị Xuyên, mà còn như một chứng tích về sức chịu đựng, tình đồng đội và nghệ thuật bảo đảm hậu cần của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Giữa núi rừng biên cương, những bếp lửa năm xưa đã tắt. Những người lính từng ngồi bên bếp cơm ấy nay nhiều người đã trở về, cũng có người mãi mãi ở lại.

Nhưng câu chuyện về dòng suối ngầm và những nắm cơm đưa lên tiền tuyến vẫn còn nguyên giá trị.

Bởi trong cuộc chiến đấu bảo vệ từng tấc đất Tổ quốc, có những đóng góp không vang lên giữa tiếng súng, mà lặng lẽ nuôi dưỡng sức mạnh của những người cầm súng.

Và đó cũng là một phần không thể thiếu của lịch sử Vị Xuyên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn