Cựu chiến binh

HẠNH PHÚC CỦA NGƯỜI QUÂN Y TIỀN PHƯƠNG - CUỘC ĐẠI PHẪU TRÊN ĐƯỜNG RA TRẬN

Sưu tầm từ tác phẩm "Hồi ức Kháng chiến" của CLB Truyền thống kháng chiến phường Bình Trưng Tây - Thủ Đức - TP. HCM (NXB. Văn học)

TP. Hồ Chí Minh22/10/2026Đoàn phường Bình Trưng (Phường Bình Trưng)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1965, đơn vị chúng tôi từ địa bàn Gia Lai - Đắk Lắk chuyển về hoạt động trên mảnh đất Phú Yên và đổi tên là Trung đoàn 10 - Ngô Quyền. Trong những năm 1964 - 1965, đơn vị đã đánh nhiều trận, quân số thiếu hụt chưa được bổ sung. Đặc biệt lúc này tình hình chiến sự trên địa bàn Phú Yên căng thẳng hơn, khiến chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, thử thách. Đầu năm 1966, Mỹ - Ngụy mở đợt càn lớn, ào ạt đổ nhiều quân cùng trang bị tối tân, trong đó có thể kể đến là: Sư đoàn anh cả đỏ, Lữ đoàn 173 tiểu đoàn dù, 01 sư đoàn bạch mã của Nam Triều Tiên, Trung đoàn 47 ngụy Sài Gòn… ngoài ra còn lính bảo an, dân vệ không kể. Chúng rải quân dày đặc khắp rừng núi tỉnh Phú Yên nhằm tiêu diệt, quét sạch quân đội chủ lực (Quân giải phóng), dự định khống chế và làm chủ toàn hệ thống quân sự chiến lược tỉnh Phú Yên. Trong khi đó, lực lượng của ta (Quân giải phóng) trên địa bàn tỉnh Phú Yên chỉ có Trung đoàn 10 Ngô Quyền quân số đang thiếu hụt chưa được bổ sung và Tiểu đoàn 85 của tỉnh đội. Thế lực chiến trường quả là không tương quan về quân số và vũ khí. Tình hình khó khăn như vậy nên để bảo vệ lực lượng chờ thời cơ, đơn vị tôi có lệnh phân tán thành từng tốp nhỏ tìm nơi giấu quân. Từ cấp tiểu đoàn đã không thể nắm rõ tình hình các cấp dưới quyền đến các tiểu đội cũng không nằm nhau được, hễ ở đâu gặp địch thì chống trả chứ không tổ chức được trận đánh quy mô tập trung nào cả. Địch mở đợt càn quét bao vây, săn lùng để tiêu diệt quân ta. Chúng chặn tất cả các ngả đường tiếp tế lương thực, vũ khí nên bộ đội ta đói khát, thiếu thốn đủ đường, ngày đêm chia nhau tìm đường xuống dân để xin lương thực. Lợi dụng tình hình này, địch bủa vây phục kích để tiêu diệt và bắt sống. Mặc dù đã tìm mọi cách và được dựa vào thế trận lòng dân nhưng vì quân số quá lớn không thể khắc phục, hoàn cảnh khó khăn ấy kéo dài đến hết năm 1966 mới dần được tháo gỡ.

Đầu năm 1967, địch tiếp tục tăng quân mở trận càn Junction City. Đây là một chiến dịch kéo dài 82 ngày của quân đội Mỹ và quân lực Việt Nam Cộng hòa nhằm vào các căn cứ của lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ở chiến khu C. Chúng rải quân từ rừng núi xuống đồng bằng nhằm quét sạch Việt cộng (Quân giải phóng). Thấy ta không đánh trận nào, chúng tuyên truyền trong dân là Việt cộng đã bị tiêu diệt hết, ai phát hiện Việt cộng ở đâu báo cho chính quyền Sài Gòn ngay. Tình hình ở chiến trường đang diễn ra như thế nên nhân dân suy giảm lòng tin vào cách mạng. Bộ đội ta cũng ít nhiều bị tác động về tư tưởng. Với tình hình nước sôi lửa bỏng như vậy, Bộ Chỉ huy Tham mưu B3 lệnh xuống trung đoàn tổ chức gom quân, học tập chính huấn để nhận nhiệm vụ mới, sau đó tìm cứ điểm của Ngụy - Sài Gòn đánh một trận, mục tiêu đánh là phải thắng. Với nhiệm vụ trên giao, Trung đoàn đã tập hợp được hơn hai trăm người, phiên hiệu lại tiểu đoàn 11 do đồng chí Bùi Lưu (quê Nghệ An làm tiểu đoàn trưởng). Tiểu đoàn 11 đã tổ chức trinh sát, chọn cứ điểm của lính Bảo an trên núi Sầm, huyện Tuy An để tấn công tiêu diệt. Được sự nhất trí của trung đoàn, Tiểu đoàn 11 đã triển khai chiến dịch vào tháng 4 năm 1967.

Đơn vị hành quân suốt mấy đêm để tiến hành triển khai trận đánh. Ban ngày thì không hành quân để tránh bị lộ. Đội hình hành quân của tiểu đoàn gồm có Ban tham mưu, Trung đoàn bộ và đội phẫu thuật tiên phương cùng đi. Tối hôm đó, vào khoảng 22 giờ, chiến sĩ Thanh đang trèo dốc bị trượt chân ngã nằm sấp. Cú ngã tưởng là nhẹ mà hóa ra lại khá nặng. Được tin anh em báo lên, đội phẫu đến ngay hiện trường tổ chức cấp cứu. Đồng chí đội trưởng đội phẫu là sỹ Thục (quê Hương Sơn, Hà Tĩnh) chẩn đoán do Thanh ngã sấp dập mạnh người lên hòn đá nên lá lách bị vỡ. Đồng chí Thanh còn bị sơ cứng lá lách độ 4 do sốt rét. Do đó cần phải mổ ngay để cầm máu, kéo dài thời gian để máu chảy sẽ hy sinh. Đồng chí Thục phân công tôi tới trung đoàn xin ý kiến. Tôi đến gặp chỉ huy trung đoàn, không gặp được quân y. Tôi gặp được chính ủy Thân Ngọc Sang (sau này đồng chí về công tác và giữ chức vụ chính ủy Cục Hậu cần quân khu 7), báo cáo tình trạng của đồng chí Thanh Tiểu đoàn 11 bị ngã như chẩn đoán của đồng chí Thục đội trưởng đội phẫu và xin ý kiến chính ủy, được chính ủy chỉ thị: "Các đồng chí thực hiện lời Bác Hồ dạy "Lương y như từ mẫu, các đồng chí chỉ cứu chữa đồng chí mình". Tôi về báo cáo với đồng chí Thục thực hiện triển khai phẫu thuật. Đội phẫu của chúng tôi có một y sĩ Thục đội trưởng và ba đồng chí y tá cùng với số anh em vận tải. Công việc chuẩn bị cho ca mổ, điều kiện có thể nào làm vậy, có hỗ trợ nào khác nữa đâu. Chúng tôi làm một bản mổ bên mẻ đường bằng lá cây xếp lên cho phẳng, trải lên trên cái võng bạt để thương binh nằm lên, bên trên giăng hai cái tăng cá nhân chắn lá cây, sương gió. Dùng xẻng quân dụng lược dụng cụ, ánh sáng thì dùng đèn pin cá nhân, chặt lá cây che ánh sáng không để dịch phát hiện. Cuộc phẫu thuật bắt đầu, gây mê giao cho y tá Vinh dùng khẩu trang gây mê úp lên mũi rồi nhỏ giọt ête vào để nạn nhân hít thở. Tôi tiêm thuốc tiền mê đến khi người bệnh đã mê, đồng chí Thục mổ kiểm tra thì lá lách thấy tình trạng vỡ lá lách lớn. Lá lách chai cứng độ 4 không cảm máu được phải cắt bỏ. Lá lách lớn muốn lấy ra phải cắt xương sườn mới lấy được. Cắt xương thứ nhất không lấy được, cắt xương thứ hai vẫn không bóc tách được. Loay hoay mãi mà gặp khó khăn không lấy được bọng đồng chỉ Thục ngất xỉu do đói mấy ngày và đồng chí tuổi cao (khoảng hơn 40 tuổi). Chúng tôi đặt đồng chí nằm gần đấy vừa theo dõi vừa cấp cứu và thực hiện tiếp ca phẫu thuật.

Tôi và đồng chí Canh tiếp tục xử lý. Lá lách cứng, xơ chai quá lớn vẫn không lấy ra được buộc phải cắt xương sườn thứ ba. Dụng cụ mổ lại cho vào nồi luộc tiếp. Hai đồng chí nấu nước luộc dụng cụ thì không hiểu dụng cụ nên tôi và đồng chí Canh vừa mổ vừa tự lấy dụng cụ. Chúng tôi bóc tách lấy được lá lách ta thật quá mừng. Nó lớn nặng gần 2 kg. Chúng tôi khâu đóng thành bụng xong thì thực hiện hồi sức cho bệnh nhân. Thời gian cuộc mổ kéo dài từ 24 giờ đến gần 3 giờ sáng, chăm sóc hậu phẫu cho đồng chí Thanh đến 6 giờ sáng thì đội phẫu chúng tôi tiếp tục chuyển về tuyến sau. Từ đó trở đi tôi không nắm được tin tức gì cả nhưng ca phẫu thuật trong hoàn cảnh và điều kiện hành quân chiến đấu thiếu thốn đó để lại nhiều kỷ niệm. Chúng tôi đã vượt khó, để hoàn thành nhiệm vụ mà Trung đoàn giao và cũng là niềm động viên để Tiểu đoàn 11 vào trận đánh. Chỉ năm ngày sau ta tiến đánh nhanh diệt gọn, trận đánh thắng lợi hoàn toàn. Từ đó, nhân dân quanh vùng đã phản bác lời tuyên truyền của lính Cộng hòa: Các ông nói Việt cộng chết hết rồi mà sao nó đánh các ông đấy?

Câu chuyện đến đó tưởng hết đâu ngờ vào dịp tôi đến làm việc với lớp đào tạo y tá của đoàn 230 Cục Hậu Cần miền (năm 1973) để nhận y tá bổ sung cho đội phẫu DT 17. Tôi là đội phó, tình cờ tôi trò chuyện với chiến sĩ y tá, là học viên của lớp đào tạo y tá, nhận thấy anh nói giọng Hà Tĩnh mà khuôn mặt rất giống đồng chí Thanh năm xưa đội phẫu chúng tôi đã mổ cắt lá lách. Tôi kể có người bạn tên Thanh (quê Kỳ Anh, Hà Tĩnh) khuôn mặt rất giống đồng chí. Anh Thanh cùng đơn vị với tôi, vào Nam năm 1964, bị thương năm 1967 ở chiến trường Phú Yên, chuyển về tuyến sau từ đó đến nay tôi không biết tin tức gì cả.

Nghe vậy, nét mặt của y tá Thần bóng sáng lên, bằng khoảng nét buồn, nét vui không tả được. Xúc động, y tá Thần nhanh và hơi lặp cập "Em có anh ruột tên Thanh, anh đã về phục viên có vợ và hai con". Tôi hỏi anh bị thương ở đâu? Đồng chí Thân vạch áo và chỉ đúng là vết thương cắt lá lách năm xưa. Thôi đúng rồi! Tôi mừng gặp được hai anh em Thanh, Thần quê Kỳ Anh, Hà Tĩnh (đồng chí Thần vào Nam năm 1971). Mới đầu gặp y tá Thần tôi đã nghi nhưng không dám kể là do điều kiện hoàn cảnh ngày ấy, mà vết thương nặng có thể suy kiệt thì làm sao! Kể ra nhỏ anh ấy hy sinh thì là nỗi buồn cho y tá Thần và gia đình vì chúng tôi mổ. Giờ biết được tin, sao duyên hội ngộ khéo đến thế, mừng đến thế. Không gì tả nổi nỗi bàng hoàng, hạnh phúc trong tôi. Tôi từ từ kể lại đầu đuôi câu chuyện và ca phẫu thuật trên đường hành quân ra trận. Y tá Thần thể hiện trên khuôn mặt mừng rỡ và Thần còn nhắc đi nhắc lại mong ngày thống nhất anh đến nhà em thì gia đình và họ hàng mừng lắm.

Biết bao ngày tháng đã trôi qua nhưng những câu chuyện xảy ra trong chiến trường, tôi không bao giờ quên được. Trên đường hành quân ra trận, thời gian co hẹp đôi khi nhau không kịp tìm hiểu quê hương bản quán nhưng đổi khi chỉ một vật kỷ niệm, một ánh nhìn thân thương đã làm nên tình đồng chí, đồng đội bền chặt. Trước họng súng kẻ thù, sau mỗi trận chiến thì kẻ còn người mất, người bị thương nặng phải lùi về tuyến sau, vậy mà tình đồng chí sao mà sâu nặng đến thế, cao cả đến thế, nghĩa tình đến thế. Chính từ đây bí quyết người lính chúng tôi, đặc biệt trải nghiệm ở chiến trường, để vượt lên sẵn sàng hy sinh xương máu và tính mạng để hoàn thành nhiệm vụ người chiến sĩ, tổ đẹp thêm 27 chữ vàng nhà nước đã trao: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng!".

Hôm nay, dù đã vào cái tuổi xưa nay hiếm nhưng những kỷ niệm năm tháng tuổi thanh xuân như vẫn còn đây và chính những kỷ niệm đó luôn nhắc nhớ lòng tôi phải giữ gìn ý chí và phẩm giá của người chiến sĩ, người cựu chiến binh của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn