Hạnh phúc giản đơn thời bình
Kí ức thời hoa lửa
Trong dòng chảy lịch sử hào hùng của dân tộc, quê hương Thanh Liêm (Hà Nam) không chỉ được biết đến với những thắng cảnh mà còn là nơi sản sinh ra những người con kiên trung, bất khuất. Thanh Liêm – mảnh đất của những rặng chè, của núi Bát, bốt Non... không chỉ ghi dấu những trận đánh ác liệt mà còn lưu giữ những câu chuyện chưa từng xuất hiện trong sách giáo khoa, sống mãi trong ký ức của những người đã đi qua khói lửa chiến tranh... Đó là câu chuyện về những con người "không chọn thời đại để sinh ra, nhưng đã sống xứng đáng với thời đại của mình". Giữa những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến, có một câu chuyện tình yêu và ý chí sắt đá của hai người con Thanh Liêm đã viết nên một huyền thoại đời thường: Đó là vợ chồng cụ Trịnh Xuân Duyên và cụ Nguyễn Thị Họa. Họ là đôi bạn đời đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi từ những ngày đạn bom đi qua “thời hoa lửa” để trở về xây dựng quê hương khi đất nước thanh bình, đổi mới.
Hạnh phúc giản đơn thời bình
Nếu cuộc kháng chiến chống Mỹ là bản hùng ca của dân tộc, thì cụ Nguyễn Thị Họa chính là một nốt nhạc trầm nhưng đầy kiêu hãnh. Với cụ, ký ức về thời chiến là những đêm dài mật phục và những cuộc đấu trí nghẹt thở với kẻ thù.
Với bản lĩnh người nữ du kích - Cụ kể lại: Chống Mỹ thì đi bắn máy bay, đi nắm đường, mình phải đi trước xem là có chỗ nào để mình gài mìn, mình giật, mình đánh. Khổ thân cái ông Lộc ở núi Bát giật mìn thì thoát chết còn cái ông Ki ở dưới Tranh đùng thì chết nằm ở rặng chè - chỗ chú Cử, bên nhà anh Ấp ở bây giờ. Ban ngày thì đi đường lối để tìm hiểu các chướng ngại vật để tối còn dẫn anh em đi. Đánh độn thổ thì lúc gặt thì người ta nòn dạ, mình đào hầm ở dưới này. Đến lúc nó đi đến thì cho nó đi hai phần đường là mình xông lên một đằng để chặn đầu, một đằng chặn đuôi để đánh nhau. Con đường đi ra Ủy ban, chỗ trạm bơm ngoài kia thì hốt hết đất đi, xong rồi đánh chông mìn ở dưới để cho xe tăng nó đi đến, nó nổ thì nó chết.
Ở cái bốt non này cực kỳ là khổ, nước lên ngang cổ. Nó cứ bắn bụp một cái thì lại mình lặn xuống, bắn bụp một cái mình lại lặn xuống. Nhưng mà sao lại không trúng vào mình “giỏi thế”.Đi hàng bao đường lối chứ có phải một mình mình đi đâu. Tối đến mỗi người đi một lối, tẽ ra hai bên đi. Ông nào mà quên lối thì cắm cờ, rồi lúc ra thì thu hết. Có người quên không thu, thế là lộ, còn có người đi chuyên nghiệp rồi thì chả phải cờ kiếc gì. Cứ ở trên nhà thờ nó bắn xuống, bụp một cái thì lại nằm xuống. Bắn bụp một cái thì lại nằm xuống.
Sức chịu đựng thật phi thường khi ho thì ôm mồm cắn răng xuống cỏ để mà ho, giả làm cóc ho. Nằm ở mồ mả suốt đêm bao giờ có lệnh ra thì mới được ra, còn chưa có lệnh ra là vẫn nằm ở mồ mả, đỉa nó cắn đầy. Ra đến nơi thì cứ sờ chỗ nào có đỉa thì rúm lại vứt đi, máu me khắp người- “gian khổ lắm”.
Câu chuyện cảm động nhất chính là việc cụ tiếp tế cho người cha bị giam cầm. Bấy giờ là đến 1954 thì hòa bình rồi về cải cách rụộng đất. Cụ đi tiếp tế cho bố, nó bắt ra đồn Non này, nó đánh vỡ đầu, nó xé quần áo của mình ra nó băng, máu me hết cả quần, áo bông. Về sau nó đưa lên Cõi rồi lại đưa lên mãi trên đầu cầu Hà Nam, lên trạm giam trên đấy. Toàn có khoác cái bị vào vai xong đi bộ, thư của các anh ở xã ở huyện, ở đơn vị thì ở trong nắm cơm. Bấy giờ ông làm chủ tịch mặt trận Việt Minh cho nên là bọn Việt gian nó mách. Nó vào bắt ông khi đang bừa ở dưới đồng, nó gọi lên. Nó bảo tối hôm nay ra ngủ với đồng đội một tối cho nó vui. Nó bắt nó nói khéo vậy. Thế là ông tưởng thật, về rồi rửa chân tay mặc quần áo vào. Tối đến là nó tra tấn, nó đánh. Ui trời ơi, nó đánh, đánh phang bên này, phang bên này ,vỡ đôi đầu máu mẹ chảy nhiều lắm. Sáng ra trông thấy bố, khóc, khóc nức, khóc nở. Xong rồi bố bảo là: “Không chết đâu con ạ! Các ông ấy băng cho rồi, không chết đâu con”. Đưa cơm cho bố ăn xong rồi là về, mang quần áo máu me về để giặt- gian khổ lắm. Lên thăm bố, cứ đường 1 ấy là đi, đi theo đường 1 lên đến trên chợ Bầu ấy, cứ dia đường đi. Chỗ nào mà nó cản trở, nó tình nghi những người gồng gánh đi chợ nữa, nó bắt đứng lại để nó kiểm tra thúng mủng, sọt, có vũ khí không? Thế là mình cứ lặng yên, bấy giờ bé tẹo, bé hơn chỉ độ bằng thằng Khang nhà mày. Nhưng mà bé nhỏ chứ không được to béo như thế, là con gái nữa. Thế là lỏn xuống ria dệ đường cứ thế mà đi, đi lên đến nơi thì tập trung ở cổng nhà tù đấy, xong rồi nó cho từng gia đình, từng đoàn vào thì mình đến là đoàn thứ hai hay đoàn thứ ba thì mình phải đứng lại đấy mình chờ, chờ xong rồi vào thì nó khám. “Bẩm quan lớn là bị của em chỉ có mấy nắm cơm với khúc cá, túi muối thôi. Thế nhưng mà trong nắm cơm ấy là có cái giấy của mặt trận người ta viết. Thế là lên bảo nhỏ với bố là có giấy ở trong nắm cơm. Đêm ông ngủ ông dậy ông viết xong là ông lại cuộn vào cái áo, ông bảo mang về giặt cho bố cái áo. Nhưng mà thực ra là giấy ở trong cái túi áo đấy. Thế là cuộn lại bỏ vào cái bị lại khoác về lại đưa cho các anh ấy.
Gian truân lắm mấy năm giời tù đầy mà chỉ có mỗi một mình mình là mang cơm mang nước đi. Xuống mãi dưới phố cà Thanh Khê mà bây giờ thuộc về Ninh Bình. Mình dẫn quân vào đánh bốt thì thằng Bảo An nó nép vào xó. Nó dơ súng nó trực nó bắn mình, mình bảo “mày bắn tao rồi súng nổ thì các anh ấy quay lại, các anh ấy bắn tan xác mày chết ngay tại đây. Tao cũng chỉ đi làm nhiệm vụ thôi chứ còn tao cũng không có súng ống gì hết”. Nhưng mà kỳ tình là súng lục vẫn đeo ở đây. Thế nhưng vẫn bảo thế, thế là nó thôi nó đi. Mình vào cửa đằng kia thì cửa đằng này nó giả vờ nó chết nó nằm ở đây.
Bộ đội mình chỉ đi tiếp quản thu súng ống, đạn dược các cái thôi. Còn người chúng nó là lấy tay đập đập vào máu xong vỗ lại người lên quần áo, lên mặt nữa. Thế là cứ tưởng chết rồi là thôi kệ mình cứ đi thôi, cứ đi thu thôi.Vất vả lắm, mấy năm trời. Rồi nhất là đánh ở trên Mậu chử, Bảo Lộc. Ôi trời ơi, bao nhiêu trung đoàn, nó hỗ trợ xe trên mạn Hà Nội trở xuống, yểm hộ nó. Trên đầu thì đại bác, máy bay, mình rút lui không kịp. Về đến cái đường đi vào Kiện bây giờ ấy, đại bác nổ, mình nằm đây mà may sao chỉ toàn có đá mới đất nó bắn lên. Thế xong rồi là các anh ấy bảo “ Thôi cái Họa chết rồi, trúng đại bác rồi, cái Họa chết rồi. Không, em không chết đâu, đi đi, đi đi, mau lên, dậy lên, vùng lên”. Trên vai cáng thương binh, khoác 2,3 cái ba lô của các anh về ao nhà thờ kiện để băng bó, chặt các lá lẩu đắp lên, chui vào đống dạ thì bị bỏ la ban. Cháy tưởng chết, nhưng chui ra được thì lẩn vào đường khúc tần, máy bay trên đầu vẫn bắn.
Một người phụ nữ – một chiến sĩ thầm lặng
Một người đã lặng lẽ cống hiến, vượt qua gian khó để góp phần làm nên diện mạo của một vùng đất hôm nay. Sát cánh cùng cụ Họa là người chồng -Cụ Trịnh Xuân Duyên, một người lính, một người cán bộ lãnh đạo tận tụylà một trong những người như thế. Cụ Duyên năm nay 94 tuổi đời và 68 năm tuổi Đảng- nguyên Bí thư Huyện ủy, chủ tịch UBND huyện Thanh Liêm.
“Gác lại tuổi học trò, ông lên đường theo tiếng gọi Tổ quốc…
Ba lần ra trận – ba lần không lùi bước…”
Chứng kiến trong 3 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống Mỹ, chống Tàu. Cụ kể lại: Năm 1950 tôi đang học lớp 4, thực dân Pháp chiếm đóng tại tỉnh Hà Nam lần thứ 2. Nghe lời kêu gọi của Đảng, của Bác Hồ, tôi gác nghiên bút trở về quê hương, thôn Đồi Ngang, xã Thanh Lưu, huyện Thanh Liêm, tham gia vào đội du kích tập trung của xã và làm liên lạc cho huyện đội Thanh Liêm, tỉnh đội Hà Nam. Đến tháng 1 năm 1952, tôi tự nguyện xung phong vào đội chủ lực, trực tiếp chiến đấu nhiều trận ác liệt, đánh quân Pháp. Thời kỳ này tôi hoạt động ở huyện Thanh Liêm chứng kiến trên đất huyện Thanh Liêm thực dân Pháp đặt 15 đồn bốt dọc đường 1 và đường 21 và các bốt Bảo an như bốt non Thanh Lưu, thôn Vĩ Liêm Túc và ở Thanh Tân … Lợi dụng sơ hở của ta chúng nhảy dù xuống cánh đồng Đại Vượng, xã Thanh Tâm. Rồi hành quân lên Non, Thanh Lưu, các ngọn núi cao để khống chế hoạt động của du kích và bộ đội ta.
Một trận chiến đấu ác liệt nhất tại núi Non, địch có một tiểu đoàn lính Lê Dương lên chiếm núi Non. Bộ đội ta B50 của huyện chỉ có 30 người, đào công sự đánh đỉnh núi non. Chiến đấu từ 7 giờ sáng đến 3 giờ chiều cùng ngày, địch không chiếm được núi Non. Chúng cho máy bay ném 3 quả bom la ban, cháy hết trụi cây cối trên đỉnh núi. Quân ta hết đạn, phải rút lui về Liêm Sơn, quân ta có một tử sĩ, một trận đánh ác liệt. Quân Pháp đóng ở Tâng, mùa tháng 8, chúng đi cano lên bao vây thôn An Lạc, xã Thanh Lưu, du kích xã chiến đấu ác liệt, bắn chìm một cano, du kích ta bị thương một đồng chí. Đến đầu năm 1954, Sư đoàn 320 trực tiếp về giải phóng hàng loạt đồn bốt, từ Đoan Vĩ đến Thanh Hà, từ Liêm Chung đến bốt cầu Ghéo, Liêm Phong
Thời kỳ chống Mỹ khẩu hiệu của chúng ta: ”Miền Bắc là hậu phương lớn đáp ứng cho yêu cầu tiền tuyến miền Nam. Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Tổ chức các đoàn dân công đi lấp hố bom, vận tải lương thực cho tiền tuyến. Tôi Trịnh Xuân Duyên đang làm Phó Chủ tịch xã Thanh Lưu, được lệnh động viên tái ngũ lần hai. Hành quân từ Bắc vào đến Quảng Bình, tôi bị thủng dạ dày, phải về về tuyến sau bị cắt mất 2 phần 3 dạ dày. Đến năm 1977 hợp nhất 3 huyện thành huyện Kim Thanh là Thanh Liêm, Kim Bảng, Phủ Lý, tôi được phân làm Phó chủ tịch thường trực.
Đến tháng 2 năm 1979 Trung Quốc đánh sang phía Bắc nước ta. Chủ trương của tỉnh Hà Nam Ninh thành lập một trung đoàn chi viện cho phía Bắc. Tôi Trịnh Xuân Duyên được lệnh động viên ra trận lần thứ 3, tôi được phân công làm Bí thư Đảng ủy, chính ủy trung đoàn. Ngày ra mắt được Chính ủy quân khu 3 về dự và trao cho tôi lá cờ “Quyết chiến- Quyết thắng”. Chiến tranh biên giới kết thúc, tôi được trở về huyện Kim Thanh để công tác. Cuộc đời tôi đang học gác nghiên bút trở về chiến đấu, một lần xung phong vào bộ đội chủ lực. Đến năm 1957 phục viên về địa phương, đến tháng 4 năm 1964 được lệnh động viên tái ngũ lần 2, đến năm 1979 được lệnh động viên tái ngũ lần 3 đều hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tôi được Đảng và Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến chống thực dân Pháp, quân đội thưởng huân chương chiến thắng hạng 3 và 2 huân chương chiến sĩ hạng 2, hạng 3. Đảng và Nhà nước tặng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất và được công nhận là người có công. Cuộc đời của tôi liên tục công tác cho Đảng và Nhà nước trên 50 năm, bất cứ việc nhỏ. việc to, việc khó, việc lớn tôi đều hoàn thành tốt.
Những tấm huân chương – đổi bằng máu, nước mắt và lòng kiên trung
🔥 Những năm tháng gian khó – “thời kỳ hoa lửa” của quê hương
Những năm trước và đầu thời kỳ Đổi mới, khi đất nước còn đối mặt với muôn vàn khó khăn, Thanh Liêm vẫn là một huyện thuần nông, đời sống nhân dân còn nhiều thiếu thốn. Cơ sở hạ tầng hạn chế, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, năng suất thấp… tất cả đặt ra những thách thức không nhỏ đối với đội ngũ lãnh đạo địa phương.
Trong bối cảnh ấy, ông Trịnh Xuân Duyên đã đảm nhiệm trọng trách Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện – trực tiếp chèo lái con thuyền địa phương vượt qua sóng gió.
Năm 1986 – dấu mốc đặc biệt của đất nước khi công cuộc Đổi mới bắt đầu được khởi xướng. Trong dịp Võ Nguyên Giáp về thăm và làm việc tại địa phương, ông Trịnh Xuân Duyên là người trực tiếp báo cáo tình hình kinh tế – xã hội của huyện.
Những nội dung được phản ánh khi đó không chỉ là khó khăn, mà còn là:
Những nỗ lực vươn lên của người dân
Các mô hình phát triển kinh tế hộ gia đình
Tinh thần đoàn kết, thi đua sản xuất của toàn huyện
Điều đó cho thấy một tư duy lãnh đạo sâu sát thực tiễn, biết nhìn thẳng vào khó khăn nhưng không bi quan, luôn tìm hướng đi mới cho địa phương.
“Cuộc gặp lịch sử – khi người lính năm xưa trở thành người lãnh đạo
Bức tranh của đồng chí Nguyễn Văn Tần ở Thanh Phong vẽ tặng cụ Duyên
“Thời kỳ hoa lửa” đã đi qua, nhưng những ký ức về “thời hoa lửa” vẫn còn in đậm trong tâm trí của các cựu chiến binh, những con người bước ra từ thời kỳ ấy vẫn luôn là biểu tượng của ý chí và trách nhiệm. Cụ chia sẻ rằng, điều quý giá nhất không phải là chiến công, mà là tình đồng đội và tinh thần đoàn kết. Cụ Trịnh Xuân Duyên và cụ Nguyễn Thị Họa – với những cống hiến thầm lặng nhưng bền bỉ – đã góp phần viết nên một trang đáng tự hào trong lịch sử quê hương Thanh Liêm. Những câu chuyện ấy là nguồn động lực lớn cho thế hệ trẻ hôm nay. Dù gặp nhiều khó khăn, nhưng vẫn giữ tinh thần lạc quan và luôn nhắc nhở con cháu phải cố gắng học tập. Là người cháu dâu trong gia đình, tôi không chỉ cảm thấy xúc động mà còn vô cùng tự hào. Tự hào vì trong mái nhà nhỏ bé của mình lại có những con người đã đi qua “thời kỳ hoa lửa”, đã góp một phần sức lực, trí tuệ cho quê hương Thanh Liêm và cho đất nước.
Nhưng trên hết, điều tôi nhận được không chỉ là niềm tự hào, mà còn là một bài học sâu sắc. Đó là bài học về lòng yêu nước, về ý chí vượt khó, về trách nhiệm của mỗi con người đối với gia đình và xã hội. Những câu chuyện của hai cụ như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà sâu sắc rằng: chúng ta hôm nay cần sống sao cho xứng đáng với những gì thế hệ đi trước đã hy sinh.
Tôi mong rằng, câu chuyện của hai cụ sẽ không chỉ dừng lại trong phạm vi gia đình, mà sẽ được lan tỏa rộng hơn – để thế hệ trẻ hôm nay hiểu, trân trọng và biết ơn quá khứ. Bởi lịch sử không chỉ nằm trong sách vở, mà còn sống động trong chính những con người rất gần gũi quanh ta.
Xin được cúi đầu tri ân hai cụ – những con người bình dị mà vĩ đại trong trái tim của con cháu.
Hôm nay, khi nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta càng trân trọng hơn những giá trị mà thế hệ đi trước đã vun đắp, để từ đó tiếp tục gìn giữ, phát huy và xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Câu chuyện của 2 cụ chỉ là 1 phần nhỏ trong câu chuyện lịch sử đầy gian khổ nhưng đã giúp chúng tôi hiểu hơn về lịch sử, về sự hy sinh của thế hệ đi trước Và còn khơi dậy trong mỗi người lòng biết ơn sâu sắc và còn truyền cảm hứng mạnh mẽ. Chúng tôi nhận ra rằng, yêu nước hôm nay chính là nỗ lực học tập tốt và rèn luyện để xứng đáng với những gì cha anh đã hy sinh vì Tổ quốc. Thế hệ trẻ hôm nay cần trân trọng hòa bình sống có trách nhiệm và góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
“Yêu nước trong thời đại mới không chỉ thể hiện bằng cảm xúc mà phải được thể hiện bằng tri thức, năng lực hành động, tinh thần chinh phục những đỉnh cao mới của khoa học, công nghệ và ý chí làm chủ tương lai đất nước.
https://drive.google.com/file/d/1YBHf6TGLoG0RirSO0MnV16z9SES1iDcm/view?usp=sharing- Video buổi chia sẻ của 2 cụ



