hành quân dưới nắng gắt, những buổi huấn luyện vất vả, những đêm gác dài lạnh giá. Nhưng trên tất cả là niềm tự hào được khoác lên mình màu áo lính. (1)
Sáng tiễn quân, sân ủy ban xã rợp màu cờ đỏ. Tiếng trống rộn ràng xen lẫn tiếng cười và cả những giọt nước mắt. Nam khoác ba lô, bước lên xe mà lòng vừa háo hức vừa bồi hồi. Cậu biết phía trước là những tháng ngày gian khổ: hành quân dưới nắng gắt, những buổi huấn luyện vất vả, những đêm gác dài lạnh giá. Nhưng trên tất cả là niềm tự hào được khoác lên mình màu áo lính.
Sáng tiễn quân, sân ủy ban xã rợp màu cờ đỏ. Tiếng trống rộn ràng xen lẫn tiếng cười và cả những giọt nước mắt. Nam khoác ba lô, bước lên xe mà lòng vừa háo hức vừa bồi hồi. Cậu biết phía trước là những tháng ngày gian khổ: hành quân dưới nắng gắt, những buổi huấn luyện vất vả, những đêm gác dài lạnh giá. Nhưng trên tất cả là niềm tự hào được khoác lên mình màu áo lính.Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, có một người chiến sĩ trẻ tuổi đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm và ý chí kiên cường – đó là La Văn Cầu.
Ông sinh năm 1931 tại Cao Bằng, trong một gia đình dân tộc Tày giàu truyền thống yêu nước. Khi mới mười mấy tuổi, ông đã tham gia cách mạng, làm liên lạc rồi trực tiếp cầm súng chiến đấu.
Năm 1950, trong Chiến dịch Biên giới, khi đơn vị tấn công cứ điểm Đông Khê, La Văn Cầu được giao nhiệm vụ đánh bộc phá mở đường cho bộ đội xung phong. Trong lúc chiến đấu ác liệt, ông bị đạn bắn nát cánh tay phải. Máu chảy rất nhiều nhưng ông không lùi bước.
Sợ cánh tay bị thương vướng vào dây bộc phá làm chậm nhiệm vụ, ông đã đề nghị đồng đội chặt đứt phần tay bị thương để tiếp tục chiến đấu. Sau đó, ông ôm bộc phá lao lên phá tung lô cốt địch, mở đường cho đơn vị tiến công giành thắng lợi.



