Hành Trình Cách Mạng Của Vị Thượng Tướng Dân Tộc Nùng
Thượng tướng Chu Văn Tấn là người dân tộc Nùng, từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời, Phó chủ tịch Quốc hội và là một trong hai vị Thượng tướng đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất. Với những cống hiến to lớn từ phong trào du kích Bắc Sơn đến suốt hai cuộc kháng chiến, ông đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Độc lập hạng Nhất và Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.
Hành Trình Cách Mạng Của Vị Thượng Tướng Dân Tộc Nùng
Thượng tướng Chu Văn Tấn, bí danh là Tân Hồng, là một người con ưu tú của dân tộc Nùng, sinh trưởng tại xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Cuộc đời ông gắn liền với những mốc son chói lọi của lịch sử cách mạng Việt Nam. Ngay từ năm 1934, ông đã dấn thân vào con đường cứu nước khi tham gia xây dựng phong trào cách mạng và chỉ đạo chiến tranh du kích ở Tràng Xá, Võ Nhai, Bắc Sơn. Đến năm 1936, ông chính thức gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Vào tháng 2 năm 1941, trên cương vị Xứ ủy viên Bắc kỳ, ông đã tham gia thành lập và trực tiếp chỉ huy Đội du kích Bắc Sơn, lực lượng sau này đổi tên thành Đội Cứu quốc quân 1. Bước sang tháng 9 năm 1941, ông đảm nhiệm vai trò Trung đội trưởng Cứu quốc quân 2 và đến năm 1944, ông tiếp tục chỉ huy lực lượng Cứu quốc quân 2 cùng Chiến khu Hoàng Hoa Thám.
Khi thời cơ chín muồi vào tháng 8 năm 1945, Chu Văn Tấn tham gia vào Ban lãnh đạo tổng khởi nghĩa. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, ông vinh dự được cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời từ cuối tháng 8 năm 1945 đến ngày 2 tháng 3 năm 1946, trước khi chuyển sang làm phái viên của chính phủ đi kiểm tra Khu 4. Đến năm 1948, ông giữ chức Khu trưởng Khu 4 rồi Chiến khu 1, đồng thời là Bí thư khu ủy. Cũng trong năm 1948 đầy ý nghĩa này, ông được phong quân hàm Thiếu tướng cùng với 10 tướng lĩnh khác trong đợt phong hàm đầu tiên của đất nước.
Trong giai đoạn từ năm 1949 đến năm 1954, ông liên tục đảm nhiệm các chức vụ quan trọng như Khu trưởng, Bí thư khu ủy Liên khu Việt Bắc, Chánh án Tòa án Quân sự, và Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc. Tiếp đó, từ năm 1954 đến năm 1957, ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư quân khu ủy Liên khu Việt Bắc. Suốt chặng đường dài từ năm 1957 đến năm 1976, ông đảm nhận vai trò Chính ủy, Bí thư khu ủy Quân khu Việt Bắc kiêm Chủ tịch Ủy ban hành chính Khu tự trị Việt Bắc. Ghi nhận những đóng góp đặc biệt của ông, vào năm 1959, ông được thăng quân hàm vượt cấp từ Thiếu tướng lên Thượng tướng và trở thành một trong hai vị Thượng tướng duy nhất của quân đội lúc bấy giờ. Sau khi đất nước hòa bình, thống nhất vào năm 1976, ông được bầu làm Phó chủ tịch Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất. Thượng tướng Chu Văn Tấn trút hơi thở cuối cùng vào năm 1984, để lại niềm tiếc thương vô hạn.
Để ghi nhớ công lao to lớn ấy, Đảng và Nhà nước đã trao tặng ông nhiều phần thưởng cao quý bao gồm Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cùng nhiều huân, huy chương khác.



