Cựu chiến binh

Kí ức chiến trường của người lính Nguyễn Trọng Thái của chi đoàn 11A8

Hà Nội06/10/2026Đoàn trường THPT Yên Viên (xã Phù Đổng)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo ở Thái Bình. Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ngày càng ác liệt, cũng như nhiều thanh niên cùng thế hệ, ông nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, lên đường nhập ngũ.

Sau ba tháng huấn luyện tân binh tại Hòa Bình, ông khoác ba lô, bắt đầu cuộc hành quân vào chiến trường miền Nam. Trong những năm chiến tranh, miền Bắc thường xuyên phải hứng chịu bom đạn. Việc hành quân vào Nam vì thế không hề dễ dàng. Có những chặng phải đi tàu hỏa, có những đoạn phải đi bộ xuyên qua những vùng đất bị đánh phá. Từ Đò Lèn, Thanh Hóa, ông cùng đồng đội tiếp tục hành quân về phía Nam. Sau nhiều tháng, ông đến Quảng Bình rồi từ đó tiếp tục vượt Trường Sơn vào chiến trường Tây Nguyên.

Con đường Trường Sơn những năm ấy vô cùng gian khổ. Bộ đội phải đi bộ qua núi rừng, thiếu thốn lương thực và thường xuyên phải đối mặt với bệnh tật. Có thời gian ông bị sốt rét nặng, tưởng như không thể vượt qua. Nhưng rồi ông vẫn sống và tiếp tục trở lại đơn vị.

Ông được biên chế vào lực lượng thông tin, làm nhiệm vụ bảo đảm liên lạc phục vụ chiến đấu. Công việc của người lính thông tin không trực tiếp ở tuyến đầu như bộ binh nhưng cũng vô cùng quan trọng. Giữa chiến trường rộng lớn, thông tin liên lạc phải được duy trì để các đơn vị có thể chỉ huy và phối hợp với nhau.

Những năm đầu ở chiến trường Tây Nguyên để lại trong ông nhiều ký ức không thể quên, nhất là những ngày tháng thiếu thốn lương thực. Có ngày mỗi người chỉ được khoảng 70–80 gam gạo. Ba ngày mới có một bữa cơm, còn lại chủ yếu là cháo, sắn và các món chế biến từ sắn. Ông nhớ nhất là những bữa cơm sắn, canh sắn, rau sắn xào hoặc rau sắn muối chua. Trong điều kiện khắc nghiệt ấy, những thứ lương thực bình dị đó lại trở thành nguồn sống giúp người lính tiếp tục bám trụ chiến trường.

Năm 1971, sau một thời gian học tập, ông trở lại chiến trường. Đây cũng là thời điểm chiến tranh diễn ra quyết liệt trên nhiều hướng. Đầu năm 1971, quân đội Sài Gòn được Mỹ hỗ trợ tiến hành cuộc hành quân Lam Sơn 719 trên khu vực Đường 9 – Nam Lào nhằm cắt tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn. Quân Giải phóng mở Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào từ ngày 30/1 đến 23/3/1971.

Sau đó, ông tiếp tục khoác ba lô vượt Trường Sơn lần thứ hai. Lần này, hành trình vào chiến trường có phần thuận lợi hơn: ông đi xe đến Quảng Bình rồi tiếp tục hành quân bộ vào Tây Nguyên. Ông được đưa về lực lượng ở Mặt trận Tây Nguyên, sau này trở thành một bộ phận quan trọng của Quân đoàn 3.

Năm 1972, ông tham gia các hoạt động chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên. Một trong những chiến dịch quan trọng của Mặt trận Tây Nguyên năm đó là Chiến dịch Bắc Tây Nguyên, trong đó quân ta tiến công các căn cứ Đắk Tô – Tân Cảnh. Đây là một trong những chiến dịch lớn trên chiến trường Tây Nguyên năm 1972.

Những năm tháng ấy tiếp tục thử thách người lính thông tin bằng bệnh tật, thiếu thốn và những cuộc hành quân dài ngày. Nhưng ông vẫn ở lại đơn vị, làm nhiệm vụ của mình và cùng đồng đội vượt qua chiến tranh.

Đầu năm 1975, tình hình chiến trường thay đổi nhanh chóng. Chiến dịch Tây Nguyên diễn ra từ ngày 4 đến 24/3/1975, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Trận then chốt Buôn Ma Thuột diễn ra ngày 10 và 11/3/1975, tạo bước ngoặt quan trọng cho chiến trường miền Nam.

Ngày 26/3/1975, Quân đoàn 3 được thành lập trên cơ sở lực lượng chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên. Ông trở thành một trong những người lính thông tin của lực lượng này. Sau khi thành lập, Quân đoàn 3 nhanh chóng hành quân về phía Nam, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Cuối tháng 4 năm 1975, ông có mặt tại khu vực Đồng Dù, Củ Chi. Đó là những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh. Ngày 30/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi, miền Nam được giải phóng, đất nước đi đến thống nhất. Quân đoàn 3 là một trong những lực lượng tham gia tiến công trên hướng Tây Bắc Sài Gòn và đánh chiếm các mục tiêu quan trọng, trong đó có sân bay Tân Sơn Nhất.

Sau ngày đất nước thống nhất, cuộc đời quân ngũ của ông vẫn chưa kết thúc. Ông tiếp tục cùng Quân đoàn 3 thực hiện những nhiệm vụ mới. Cuối những năm 1970, quân đoàn tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và thực hiện nghĩa vụ quốc tế, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng. Sau đó, vào tháng 6/1979, Quân đoàn 3 cơ động ra khu vực Bắc Thái để thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và bảo vệ biên giới phía Bắc.

Đến năm 1988, ông lại cùng đơn vị hành quân trở lại Gia Lai, Tây Nguyên. Sau nhiều năm chiến đấu và công tác, đến năm 1990 ông nghỉ hưu, khép lại khoảng 25 năm cuộc đời quân ngũ.

Nhìn lại chặng đường từ năm 1965 đến năm 1990, điều đặc biệt trong cuộc đời ông là gần như suốt thời gian trong quân đội, ông đều gắn bó với người lính thông tin. Ông đã đi qua nhiều chiến trường, từ miền Bắc vào Trường Sơn, đến Quảng Bình, Kon Tum, Tây Nguyên, Nam Bộ, rồi Campuchia và trở lại miền Bắc.

Điều ông nhớ nhất có lẽ không chỉ là những chiến dịch lớn hay những ngày tháng chiến tranh ác liệt, mà còn là những điều rất bình dị: những chuyến hành quân dài ngày, những lần vượt Trường Sơn, những cơn sốt rét, những bữa cơm ít ỏi với sắn và những người đồng đội đã cùng ông chia sẻ từng chút lương thực trong những ngày gian khó.

Câu chuyện của ông là câu chuyện của một thế hệ thanh niên đã dành những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ cho quân đội. Từ một người con nghèo của Thái Bình, ông đã trở thành người lính đi qua nhiều chiến trường và chứng kiến những bước ngoặt lớn của lịch sử dân tộc. Khi hòa bình trở lại, những năm tháng ấy trở thành ký ức không thể nào quên – một phần cuộc đời của người lính đã sống, chiến đấu và trưởng thành cùng lịch sử đất nước.​

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn