Bài viết

Hành trình đưa hài cốt Nguyễn Thiện Thuật về từ Trung Quốc

Hưng Yên30/11/2025báo người lao động (xã Tiên Hoa)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khi khai quật mộ danh tướng Nguyễn Thiện Thuật, bên dưới quan tài còn nguyên bia đá cũ.

Đây là cách quy tập mộ kiểu cũ nhưng rất có giá trị, đề phòng vì bất cứ lý do gì nếu bia mộ phía trên bị hư hỏng hay mất mát, khi tìm thấy mộ người ta vẫn xác định được mộ phần của ai.Nguyễn Thiện Thuật, thủ lĩnh của khởi nghĩa Bãi Sậy, quê ở làng Xuân Đào, xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, Hưng Yên. Ông là hậu duệ đời thứ 30 của Nguyễn Trãi.“Vua Bãi Sậy”Năm 1874, khi đã đỗ tú tài, Nguyễn Thiện Thuật tiếp tục đỗ cử nhân rồi đình nguyên tiến sĩ. Ông được thăng chức tri phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, rồi được bổ nhiệm giữ chức tán tương quân vụ tỉnh Hải Dương (vì thế nhân dân thường gọi ông là Tán Thuật). Khi thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai năm 1882-1883, nhà Nguyễn đầu hàng nhưng Nguyễn Thiện Thuật đã kháng lệnh triều đình, ông rút lên Hưng Hóa, Tuyên Quang rồi thành Lạng Sơn để kháng Pháp. Khi thành thất thủ năm 1885, ông rút sang Trung Quốc (TQ).Tháng 7-1885, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương. Nguyễn Thiện Thuật trở về nước, thành lập căn cứ địa Bãi Sậy. Dưới sự lãnh đạo của ông, khởi nghĩa Bãi Sậy lan ra khắp tỉnh Hưng Yên và một số tỉnh lân cận như Hải Dương, Thái Bình.Căn cứ Bãi Sậy là khu rừng sậy ở giữa các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ và Mỹ Hào. Căn cứ Bãi Sậy có vị trí hiểm yếu, tiện phòng thủ, thuận lợi trong tiến công; quân Pháp nhiều lần tấn công nhưng không dẹp được, còn bị tổn thất nặng nề, quân Pháp đặt cho ông biệt danh là “vua Bãi Sậy”. Từ sau khi vua Hàm Nghi bị bắt (năm 1888) và lưu đày ở châu Phi, phong trào Cần Vương bắt đầu suy yếu. Sức mạnh của quân Bãi Sậy cũng suy yếu dần. Quân Pháp thiết lập được nhiều đồn quanh căn cứ Bãi Sậy để chia cắt người dân với nghĩa quân.Trước tình hình khó khăn, Nguyễn Thiện Thuật giao quyền lãnh đạo cho em là Nguyễn Thiện Kế, rồi sang Trung Quốc mưu tính các cuộc vận động mới để chống Pháp nhưng không thành.Sự nghiệp chưa thành, ông mất vì bệnh ngày 25-5-1926 tại Trung Quốc.

Năm 1956, ông Đỗ Đình Truật sang Trung Quốc phụ trách các lớp học tại Học xá Nam Ninh. Cũng tại đây ông gặp và làm quen với học giả Trần Văn Giáp. Thời điểm bấy giờ ông Giáp đến Nam Ninh để tìm dấu vết của Hồ Quý Ly, do một số tài liệu Minh sử ghi rằng Hồ Quý Ly bị đày làm lính thú rồi bị giết tại đây. Sau khi nghiên cứu các tài liệu cổ sử ở Nam Ninh, ông Giáp khẳng định thông tin Hồ Quý Ly bị đày đến Quảng Tây là không có thực. Đây là những thông tin nền móng đầu tiên giúp ông Truật sau này đi tìm mộ Hồ Quý Ly.

Rồi một hôm ông Giáp nói với ông Truật: “Sáng mai chúng ta sẽ đi viếng mộ một người anh hùng, đấy là cụ Tán Nguyễn Thiện Thuật”.

Ông Truật ngạc nhiên, hỏi lại: “Hóa ra mộ cụ Tán Thuật ở ngay Nam Ninh đây sao?”.

Ông Giáp nói: “Đúng vậy! Ta nhờ con viết một bài điếu để đọc trước mộ của cụ”.

Được giao trọng trách nhưng thay vì viết bài điếu, ông Truật lại làm một bài thơ dài, trong đó có những câu: “Rừng lau trại sậy quân một nhóm/ Chính nghĩa không mờ nghĩa quốc gia…”.

Sáng hôm sau hai thầy trò đi đến đồi Quan Kiều, sau khi len lách qua nhiều ngôi mộ, cả hai đến trước một ngôi mộ với bia đá ghi dòng chữ “Việt Nam cách mạng. Cố tướng quân Nguyễn Công Thiện Thuật - Chi mộ”. Tại đây hai thầy trò đã cúi đầu thắp hương tưởng nhớ vị chủ tướng của khởi nghĩa Bãi Sậy, nay nấm mồ xanh cỏ nơi đất khách quê người.

Ông Giáp nói với ông Truật: “Bây giờ đất nước ta tuy không còn bị Pháp đô hộ nhưng vẫn còn chưa thống nhất, tình hình chính trị-xã hội chưa yên. Khi nào đất nước yên bình, phải báo tin cho con cháu cụ Tán Thuật biết để đưa hài cốt cụ về với quê hương”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn