Hành trình ra Bắc, hồi ức của Thiếu tướng Bảy Viễn

Ra Bắc
Đội 2000 là đội biệt động được thành lập vào năm 1952 với 48 đồng chí do tôi làm đội trưởng, đồng chí Lê Văn Chiêu làm chính trị viên. Sau bổ sung thêm hai đồng chí nữa làm đội phó là Lê Hồng Huệ và Nguyễn Văn Bảy. Đội có 12 đảng viên do đồng chí Chiêu làm bí thư. Tất cả anh em đều được huấn luyện đặc công hóa và công binh và đi thực tập ở Cam pu chia hai tháng. Đông xuân năm 1953 – 1954, hưởng ứng chiến trường chung, đội 2000 của chúng tôi bám trụ ở hai xã Mỹ Hiệp Sơn và Vọng Thê thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Long Châu Hà, phát triển lên khu vực tôn giáo thuộc vùng quản lý của Hai Ngoán (Lâm Thành Nguyên), Mỹ Đức và hướng xuống Long Xuyên. Đội đánh diệt đại đội 12 thuộc lực lượng Hòa Hảo ở kinh 12 (Láng Linh), kết hợp với một đại đội của tiểu đoàn 307 đánh diệt đồn chợ Mặc Cần Dưng.
Sau trận đánh đó, đội tôi được lệnh chuyển quân chuẩn bị tập kết. Tạm biệt các đồng bào, đồng chí địa phương chúng tôi về đóng quân ở Nam Thái Sơn (nay thuộc huyện Hòn Đất – Kiên Giang) rồi ra Vàm Rầy xuống ghe vượt biển về đóng quân ở Thứ Chín thuộc quận An Biên học tập chuẩn bị tập kết ra Bắc. Mấy ngày ổn định đóng quân xong, tôi được lịnh chuẩn bị đi học chính trị. Suốt một ngày, giao liên thay phiên chèo xuồng đưa tôi xuống ngã tư Phó Sinh (Hồng Dân – Bạc Liêu). Lên nhà tiêp nhận, tôi được phổ biến mình được chọn ra Bắc học.
Đoàn sĩ quan quân sự chúng tôi có 24 người, cũng là đoàn ra Bắc đầu tiên trước khi các đơn vị khác còn đang chuẩn bị tập kết. Lúc đó, chúng tôi lấy danh hiệu là phái đoàn sĩ quan của Ủy ban Liên hợp để điều động lực lượng tập kết. Từ căn cứ ở Phó Sinh, chúng tôi được tàu đưa ra Ngã bảy Phụng Hiệp, nghỉ đêm tại nơi làm việc của Ủy ban Liên hợp. Bảy giờ sáng hôm sau, Pháp cho hai chiếc xe cùng một trung đội lính Lê dương hộ tống chúng tôi lên Xuyên Mộc (Bà Rịa – Vũng Tàu). Tới nơi, chúng tôi được bí mật đưa xuống tàu cùng với một đoàn của miền Đông tiếp tục cuộc hành trình ra Bắc. Mấy ngày lênh đênh trên biển, tàu chúng tôi cập bến Sầm Sơn. Lên bờ, chúng tôi lội bộ về Thanh Hóa. Đến nơi, nhận được tin Hà Đông đã hoàn toàn thuộc về ta, chúng tôi lại tiếp tục lên đường thẳng tiến. Dừng chân tại Hà Đông vài ngày đợi tình hình yên ổn, chúng tôi tiếp tục đi bộ lên Sơn Tây. Từ Sơn Tây, chúng tôi mới được ngồi xe lên biên giới. Lại phải cắt đường rừng đi bộ để đảm bảo bí mật. Vòng vo mãi cả ngày trời mệt lả mới được bạn đón về trường Sĩ quan Lục quân của ta đóng tại Quế Lâm – Quảng Tây (Trung Quốc). Đây là trường quân sự của ta với sức chứa lên đến cả ngàn người. Giảng viên do người Việt Nam và các chuyên gia của bạn trực tiếp giảng dạy về quân sự và lý luận chính trị. Khóa đào tạo sĩ quan có nhiều anh em từ miền Nam ra. Năm 1956, chúng tôi trở về nước. Bản thân tôi được tham gia vào cuộc chỉnh huấn cải cách ruộng đất ở cuối cùng ở miền Bắc vào tháng 3/1956. Sau đó, tôi được bổ nhiệm trung đội trưởng thuộc trung đoàn 660 của miền Tây Nam bộ. Lúc đó, các đơn vị bộ đội ở miền Tây Nam bộ đã tập kết ra Bắc thành lập được bốn trung đoàn 656,658, 660 và 664. Vậy là hơn mười năm làm bộ đội cụ Hồ, cho đến lúc này tôi mới thật sự trở thành người lính chính quy được Đảng và Nhà nước đào tạo đàng hoàng.
Một năm sau, từ ba trung đoàn, ta thành lập Sư đoàn 338. Sư đoàn có trường huấn luyện hạ sĩ quan mang phiên hiệu D15. Tôi được phân công về trường. Tháng 5/1958, tôi nhận hàm trung úy phụ trách cán bộ đại đội rồi trợ lý chính trị cho tiểu đoàn huấn luyện. D15 mở 2 lớp huấn luyện hạ sĩ quan. Học viên gồm các hạ sĩ quan tân binh lấy từ những con em miền Nam ra học tập ở miền Bắc. Đây là nguồn sĩ quan – hạ sĩ quan được đào tạo cho miền Nam sau này. Việc huấn luyện các tân binh ở D15 đang tiến hành suôn sẻ thì tôi được lệnh của đại tá Tô Ký, sư trưởng kiêm chính ủy sư đoàn 338 gọi lên bàn giao công việc để chuẩn bị trở lại miền Nam.
Tôi và 28 đồng chí cán bộ được đưa về khu quân sự gần sân bay Gia Lâm để học chuyên môn theo các phương pháp dành cho hoạt động tình báo như cách sử dụng các phương tiện cơ giới và thông tin, sử dụng các loại vũ khí, chất nổ… Thật ra, không ai ngờ cục diện chiến trường miền Nam thay đổi nhanh chóng. Từ U Minh hạ qua Đồng Tháp Mười lên Đông Nam bộ… đâu đâu cũng có lực lượng vũ trang ra đời. Rải rác khắp miền Nam vang lên những tiếng súng báo hiệu cho một xu thế cách mạng mới bắt đầu. Tôi biết được điều này là do tháng 8/1958, từ miền Nam ra báo cáo tình hình cách mạng miền Nam với Bộ Chính trị, đồng chí Lê Duẫn đến thăm đoàn và nói chuyện về miền Nam đồng thời chỉ thị cho chúng tôi một số nội dung cụ thể để đáp ứng yêu cầu trong đó.
Vậy là mấy tháng học các phương pháp hoạt động tình báo trong lòng địch không còn phù hợp trước tình hình cách mạng có sự thay đổi mới.Chúng tôi tổ chức học lại các công tác về binh chủng hợp thành với nội dung chủ yếu là chiến thuật phục kích, tập kích, đánh đồn và phương pháp huấn luyện cho các lực lượng vũ trang. Tình hình chiến trường miền Nam càng lúc càng cấp bách. Trở về sớm chừng nào là có lợi cho trong đó chừng đó. Chúng tôi học ngày, học đêm với phương châm “tháng khôn tuần, tuần không ngày, ngày không giờ”. Một tuần lễ, chúng tôi phải nuốt trọn một chương trình bình thường phải học hơn cả tháng. Ngày lý thuyết, đêm thực hành. Khoác ba lô lên vai, lặng lẽ đi bộ rời khỏi Hà Nội lên Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Bãi Cháy (Quảng Ninh) để thực tập các bài tập mang nặng trèo đồi vượt núi chuẩn bị cho chuyến vượt Trường Sơn. Mỗi người phải mang nặng từ 30kg rồi tăng dần lên 42kg đi suốt từ 8 giờ tối đến 2 giờ sáng. Trực tiếp huấn luyện quân sự là đồng chí Trần Văn Trà lúc này là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn, về chính trị là đồng chí Phạm Hùng lúc này là Phó thủ tướng. Có một buổi được nghe đại tướng Võ Nguyên Giáp đến nói chuyện.
Một sáng trung tuần tháng 12/1959, theo kế hoạch thì chúng tôi phải ra thao trường nhưng được lệnh ở nhà tập súng ngắn. Ăn sáng xong một lát thì thấy có một chiếc xe ca đến. Đồng chí phụ trách lớp thông báo: “Các đồng chí khẩn trương lên xe. Trưa nay, chúng ta được đồng chí Phạm Hùng mời đến nhà dùng cơm”. Gần 10 giờ sáng, xe đưa chúng tôi đến nhà đồng chí Phạm Hùng. Tôi tự nghĩ có lẽ đây là bữa cơm tiễn đưa chúng tôi.
Đang đứng trò chuyện với nhau trước sân nhà đồng chí Phạm Hùng thì chúng tôi thấy có một chiếc xe đỗ lại trước cổng. Đồng chí Phạm Hùng chạy ra nói lớn: Hôm nay, Bác Hồ đến thăm các đồng chí. Các đồng chí chuẩn bị đón Bác. Chúng tôi cùng đứng ngây người ra không nói được lời nào. Bác bước xuống xe cùng với hai đồng chí cảnh vệ đi nhanh về phía chúng tôi. Chúng tôi cùng ùa vào phòng khách của đồng chí Phạm Hùng. Tôi để ý thấy hai anh cảnh vệ đứng phía nào thì chắc Bác sẽ ngồi phía đó nên chọn cho mình chiếc ghế cạnh đấy. Vậy là, tôi được gần Bác nhất. Bác quay sang hỏi đồng chí Phạm Hùng:
- Anh em đến đủ chưa ? Công việc chuẩn bị xong hết chưa ?
- Báo cáo Bác, rồi cả ạ. – Đồng chí Phạm Hùng nhìn chúng tôi một lượt rồi trả lời Bác.
Bác ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống rồi nói:
- Hôm nay Bác đến thăm các chú. Nhiệm vụ và kế hoạch thì đồng chí Phạm Hùng và đồng chí Trần Văn Trà đã thay mặt Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương giao cho các chú rồi. Bác chỉ chúc các chú lên đường mạnh giỏi.
Ngừng lại một chúc Bác nói tiếp:
- Các chú về Nam cho Bác gửi lời thăm các cụ, các đồng bào, đồng chí Nam bộ dồi dào sức khỏe, cố gắng chiến đấu và công tác tốt để Bác sớm được vào thăm miền Nam. Các chú về Nam lần này, là đoàn quân sự đầu tiên nên phải hết sức giữ bí mật. Ta giữ bí mật không phải vì ta sợ chúng mà là đừng để chúng hiểu được ý đồ của ta. Các chú nên nhớ rằng trên đường đi, con đường nào gian khổ nhất là con đường an toàn nhất và gần nhất.
Bác vừa dứt lời thì đồng chí phó đoàn chúng tôi đứng dậy định hứa quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Bác tin cậy thì Bác đã khoát tay:
- Bác hiểu chú định nói gì với Bác rồi. Thôi, không còn nhiều thời gian đâu. Bác chúc các chú sớm về đến Nam bộ.
Bác bước ra về, chúng tôi nhìn theo cho đến khi chiếc xe đưa Người khuất tầm mắt mình mới thôi. Trở về doanh trại, chúng tôi họp chi bộ lấy lời dạy của Bác viết thành bức tâm thư gởi lên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Đó cũng là nghị quyết của chi bộ chúng tôi suốt trên đường về Nam sau này. Để đảm bảo tuyệt đối bí mật, Đoàn chúng tôi đổi tên là B500. Mỗi thành viên trong đoàn đều đổi tên mới. Trong văn kiện hay xưng hô cứ theo đó mà gọi như: Trưởng đoàn Tăng Thiên Kim (cán bộ hóa học thuộc Trường Sĩ quan lục quân) gọi là Tư Chương, hai Phó đoàn Lê Thành Nhơn gọi là Tư Vũ, Nguyễn Tấn Sĩ đổi là Hai Phong. Tôi là Lê Quang Viễn được đổi là Lê Nguyễn (Bảy Nguyễn). Sau đoàn B500 thì còn có một đoàn nữa do anh Ba Cung (thiếu tướng Phùng Đình Ấm) chỉ huy (đoàn B90) cũng vào tới căn cứ Nửa Lon. Sau đó, cả 2 đoàn cán bộ đều được đưa về căn cứ của xứ ủy Nam bộ ở Mã Đà.
Đúng 4 giờ ngày 25 tháng 12 năm 1959, chúng tôi rời Hà Nội lên đường.
Nguồn: Hội truyền thống Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh



