Bài viết

HÀNH TRÌNH THẦM LẶNG CỦA MẸ NHU: TÌNH THƯƠNG KHÔNG LỜI NHƯNG CHƯA BAO GIỜ VƠI”

Đà Nẵng27/12/2025Chi đoàn trường MN 19-5 (Chi đoàn trường MN 19-5)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong dòng chảy hùng tráng của lịch sử dân tộc, những trang vàng rực rỡ nhất luôn thuộc về những con người bình dị mà phi thường. Đó là các chiến sĩ là những người ngã xuống giữa chiến trường khốc liệt và là những người dâng hiến sức lực, niềm tin của mình cho tổ quốc, cũng là những người mẹ Việt Nam anh hùng, những người phụ nữ đã đem trái tim và máu thịt của mình gửi vào cuộc chiến vì độc lập, tự do của đất nước. Trong số những tấm gương sáng ngời ấy, Mẹ Nhu hiện lên như biểu tượng đẹp đẽ của sự kiên trung, lòng yêu nước và đức hy sinh vô bờ bến.

Sinh ra và lớn lên trong một vùng quê nghèo còn đượm khói lửa chiến tranh, mẹ Nhu mang trong mình phẩm chất mộc mạc của người phụ nữ Việt Nam: Lê Thị Đảnh (Tức mẹ Nhu) là tên khai sinh của mẹ, người sinh thành vào năm 1914, quê ở phường Thanh Lộc Đán, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam (nay là Thanh Khê 4 - phường Thanh Lộc Đán, thành phố Đà Nẵng). Tham gia cách mạng 1968.

Mẹ Nhu sinh ra và lớn lên giữa thành phố giàu truyền thống cách mạng. Cuộc đời mẹ Nhu chịu bao đắng cay, khổ cực của người dân nô lệ. Mẹ có người con trai sớm giác ngộ cách mạng, đã đứng trong hàng ngũ của Đảng. Tin con và có cảm tình với cách mạng Mẹ Nhu tích cực xây dựng hầm bí mật nuôi giấu con mình và cán bộ hoạt động.

Trong những năm 1966-1967, địch ráo riết lùng sục và ngăn chặn cơ sở cách mạng phát triển vào thành phố Đà Nẵng. Khoanh vùng đồn bốt địch dày đặc, nhưng mẹ Nhu vẫn che chở, nuôi dưỡng cán bộ trong những căn hầm bí mật do chính tay mình đào. Nhiều đêm mẹ thức trắng để bảo vệ anh em cán bộ. Từ những căn hầm của mẹ Nhu, lực lượng của ta nhiều lần xuất kích luồn sâu, đánh hiểm, diệt hết đồn này đến đồn khác làm cho địch hoang mang khiếp sợ.

Năm 1968, do bọn đầu hàng chỉ điểm, địch biết nhà mẹ Nhu có hầm bí mật nuôi giấu chiến sĩ biệt động Đà Nẵng. Chúng bí mật huy động lực lượng bao vây, bịt kín những con đường ra vào Thanh Khê, rồi bất ngờ ập vào nhà mẹ Nhu. Con trai mẹ là Phạm Phú Long bị bắt. Chúng tra tấn đánh đập người con trai của mẹ hòng buộc mẹ thương con phải chỉ hầm bí mật. Không lay chuyển được ý chí và lòng trung thành của mẹ với cách mạng, chúng xông vào đánh mẹ dã man. Bất chấp sự doạ nạt khảo tra, mẹ Nhu vẫn hiên ngang trước quân thù. Chúng đã hèn hạ nổ súng giết hại mẹ Nhu. Từ dưới hầm 3 chiến sĩ biệt động bật lên, ném lựu đạn, bắn súng AK diệt 6 tên (có tên chỉ huy) bọn địch xô nhau bỏ chạy. Từ căn hầm nhà mẹ Hiền (Gần nhà mẹ Nhu) 4 chiến sĩ biệt động cũng xông lên cùng phối hợp chiến đấu. Cuộc chiến đấu giữa 7 chiến sĩ Thanh Khê với 2 tiểu đoàn địch diễn ra suốt ngày 26 tháng 12 năm 1968. Đêm 26 tháng 12, các chiến sĩ biệt động của ta đã vượt vòng vây địch trở về căn cứ.

Tấm gương hy sinh anh dũng của mẹ Nhu đã tiếp thêm sức mạnh cho các chiến sĩ ta và làm cho quân thù phải khiếp sợ. Một con người chịu thương, chịu khó, giàu tình nghĩa và giàu lòng yêu nước. Khi đất nước lâm nguy, khi tiếng gọi Tổ quốc vang lên khắp nơi, mẹ đã không chỉ là người phụ nữ của mái nhà nhỏ mà trở thành hậu phương lớn của tiền tuyến, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho những người lính bước vào cuộc chiến sinh tử.

Những năm tháng chiến tranh khốc liệt đã đặt lên đôi vai gầy của mẹ biết bao thử thách. Mẹ tiễn từng người con, tiễn chồng, tiễn anh em… lên đường chiến đấu. Cả cuộc đời mẹ là những buổi tiễn đưa đơn sơ mà nghẹn lại, là những cuộc chia tay không biết bao giờ mới đến ngày gặp lại. Mỗi lần con khoác ba lô lên đường, mẹ chỉ nói một câu giản dị nhưng chất chứa sức mạnh tinh thần lớn lao:

“Các con cứ đi đánh giặc. Nhà mình còn mẹ.” Câu nói ấy không chỉ là lời động viên; đó là lời thề, là niềm tin kiên định vào công lý, vào tương lai của dân tộc. Đằng sau sự bình thản đó là nỗi nhớ thương con chảy âm thầm trong tim mẹ, là những đêm dài mẹ ngồi lặng bên ngọn đèn dầu, ngóng tin từ chiến trường xa tít tắp.

Cuộc đời có khi thật nghiệt ngã. Lần lượt, mẹ nhận tin dữ về những người con đã hy sinh, về người chồng vĩnh viễn nằm lại trên chiến trường. Mỗi một mất mát là một vết thương sâu không bao giờ lành lại. Thế nhưng mẹ không gục ngã. Không một lời than thở, không một trận khóc oán hận, mẹ đứng thẳng để tiếp tục làm chỗ dựa cho quê hương, cho bộ đội, cho cách mạng. Mẹ hiểu rằng sự hy sinh của gia đình mình chỉ là một phần trong vô vàn hy sinh của cả dân tộc, và điều quan trọng nhất là đất nước phải thắng, nhân dân phải được sống trong hòa bình.

Ngoài nỗi đau riêng, mẹ Nhu còn dồn tất cả sức lực để góp phần cho kháng chiến. Mái nhà nhỏ của mẹ từng là nơi nuôi giấu cán bộ, che chở bộ đội, là nơi chia sẻ từng bát cơm, từng hũ gạo dù gia đình mẹ cũng chẳng khá giả gì. Có những đêm đạn bom rền rĩ, mẹ vẫn lặng lẽ đưa thương binh qua sông, giấu họ trong những bụi chuối sau vườn, chăm sóc từng chút một. Tình thương của mẹ không chỉ là tình mẹ dành cho con mình, mà còn là tình của một người mẹ dành cho Tổ quốc.

Khi đất nước độc lập, hòa bình trở lại, mái tóc mẹ đã bạc trắng theo năm tháng. Những người con mẹ gửi đi không còn trở về, nhưng tình yêu nước và tấm lòng son sắt của mẹ vẫn sáng lên trong từng câu chuyện, từng nếp sinh hoạt hằng ngày. Người dân trong xóm ai cũng kính trọng mẹ. Họ gọi mẹ bằng cái tên trìu mến: “Bà mẹ Việt Nam anh hùng.”

Tấm gương mẹ Nhu để lại cho hôm nay vô cùng lớn lao. Mẹ không phải là chiến sĩ nơi tuyến đầu, không mang súng, không lập chiến công hiển hách, nhưng chính sự hy sinh âm thầm của mẹ đã góp phần tạo nên chiến công ấy. Nếu Tổ quốc là ngôi nhà lớn, thì những người như mẹ Nhu chính là nền móng vững bền giữ cho ngôi nhà ấy đứng vững trong bão táp thời đại.

Sau ngày miền Nam giải phòng, Đảng bộ và nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xây dựng tượng đài “Mẹ dũng sĩ Thanh Khê” để tưởng nhớ những bà mẹ đất Quảng anh hùng. Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Lê Thị Đảnh được Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lương vũ trang nhân dân.

Ngày hôm nay, khi chúng ta sống trong hòa bình, khi tiếng bom đạn chỉ còn trong ký ức, càng phải biết trân trọng hơn những gì được đánh đổi bằng máu xương của hàng triệu người, trong đó có những người mẹ như mẹ Nhu. Thế hệ trẻ càng phải được nhắc nhớ rằng: “ Hòa bình không phải là điều hiển nhiên. Độc lập không phải là món quà được trao tặng”. Tất cả đều đến từ hy sinh của cha ông ta và của những người mẹ Việt Nam anh

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
HÀNH TRÌNH THẦM LẶNG CỦA MẸ NHU: TÌNH THƯƠNG KHÔNG LỜI NHƯNG CHƯA BAO GIỜ VƠI” | Câu chuyện thời hoa lửa