Hành trình tìm đường cứu nước
Năm 1890, tại làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, cậu bé Nguyễn Sinh Cung cất tiếng khóc chào đời. Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, chứng kiến nỗi đau của nhân dân dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, trong lòng người thanh niên trẻ đã sớm sục sôi một hoài bão lớn: tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc.
Năm 1890, tại làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, cậu bé Nguyễn Sinh Cung cất tiếng khóc chào đời. Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, chứng kiến nỗi đau của nhân dân dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, trong lòng người thanh niên trẻ đã sớm sục sôi một hoài bão lớn: tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc.
Hành trình tìm đường cứu nước (1911 – 1941)
Ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ bến cảng Nhà Rồng trên con tàu Amiral Latouche-Tréville, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi khi mới 21 tuổi. Với đôi bàn tay lao động trần sắt, Người đã đi qua nhiều châu lục, làm đủ mọi nghề để tự nuôi sống bản thân và quan sát, học hỏi từ các nền văn minh thế giới.
Năm 1919, Người lấy tên Nguyễn Ái Quốc và gửi bản Yêu cầu của nhân dân An Nam đến Hội nghị Versailles. Tháng 12 năm 1920, tại Đại hội Tour, Người bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước chuyển ngoặt quan trọng: từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin.
Sau nhiều năm hoạt động cách mạng sôi nổi ở Liên Xô, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, ngày 3 tháng 2 năm 1930, Người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc), hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước thành một Đảng duy nhất.
Lãnh đạo cách mạng và khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1941 – 1945)
Mùa xuân năm 1941, sau 30 năm bôn ba khắp thế giới, Người trở về cột mốc 108 trên biên giới Việt - Trung, đặt chân lên mảnh đất Pắc Bó (Cao Bằng) để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Tháng 8 năm 1945, thời cơ lịch sử đến. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt đứng lên thực hiện cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám giành chính quyền. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Hai cuộc kháng chiến trường kỳ (1945 – 1969)
Ngay sau khi độc lập, đất nước phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, vận mệnh dường như "ngàn cân treo sợi tóc". Trước tham vọng trở lại xâm lược của thực dân Pháp, đêm ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Lời kêu gọi ấy đã biến thành sức mạnh quật cường, dẫn dắt dân tộc qua 9 năm "khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt" để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" vào năm 1954.
Đất nước tạm thời bị chia cắt. Bác Hồ tiếp tục lãnh đạo nhân dân miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời là hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam với quyết tâm sắt đá: "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song độ cậy ấy không bao giờ thay đổi."
Di sản để lại cho muôn đời
Ngày 2 tháng 9 năm 1969, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ở giai đoạn quyết liệt nhất, trái tim của Bác đã ngừng đập, để lại niềm thương tiếc vô hạn cho toàn thể dân tộc và bạn bè quốc tế. Tuy Người không kịp thấy ngày đất nước hoàn toàn thống nhất vào mùa xuân năm 1975, nhưng tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam bước tiếp trên con đường phát triển và hội nhập.



