hành trình trở về
Ngược dòng lịch sử, tháng 10/1963, phòng Hậu cần Miền được thành lập để đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của chiến trường miền Nam. Ngày 10/12/1964, Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền quyết định thành lập Cục Hậu cần Miền.
Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, chiến tranh cục bộ của Mỹ bị phá sản, chúng lại chuyển sang chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”. Để phù hợp với tình hình mới, ngành Hậu cần mở rộng phạm vi hoạt động sang Campuchia, tạo thế và lực mới, đảm bảo cho cuộc tấn công chiến lược năm 1972 giành thắng lợi.
Ngày 7/4/1972, Lộc Ninh được giải phóng, trở thành thủ phủ của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Năm 1973, để phù hợp với tình hình mới, Bộ Chỉ huy Miền đã dời về căn cứ Tà Thiết, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước và Cục Hậu cần Miền chuyển từ Campuchia về lập căn cứ tại khu vực Hồ cầu trắng, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước (nay là xã Lộc Quang, tỉnh Đồng Nai) để thuận lợi cho việc tiếp nhận hậu cần theo đường vận tải chiến lược, đồng thời cũng để tiện chỉ huy, chỉ đạo các lực lượng phía trước, phía sau của Cục Hậu cần Miền, phục vụ kháng chiến.
Từ năm 1973 đến 1975, hậu cần B2 tranh thủ thời cơ thuận lợi, ra sức tạo thế, tạo lực mạnh. Trong giai đoạn này, tổ chức của Cục Hậu cần Miền ngày càng hoàn thiện, ổn định và hoạt động hiệu quả. Đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, riêng tại chiến trường B2 đã có 34 bệnh viện quân y, 4 bệnh viện dân y và 13 đội điều trị quân y cơ động thuộc Cục Hậu cần Miền, ngày đêm bám sát chiến trường phục vụ các lực lượng vũ trang quân giải phóng. Song do tính chất ác liệt của cuộc chiến, đã có nhiều thương bệnh binh hy sinh trong khi điều trị và nhiều cán bộ, nhân viên quân y và dân y biệt phái đã anh dũng hy sinh trong khi phục vụ và cầm súng bảo vệ thương bệnh binh. Đến nay, hơn 9 ngàn liệt sĩ (trong đó có hơn 500 liệt sĩ là cán bộ, nhân viên quân, dân y) còn nằm lại ở các căn cứ bệnh viện và đội điều trị quân y Miền năm xưa.
Để thể hiện lòng tri ân đồng đội, Tổng Cục Hậu cần đã xây dựng các công trình tại di tích địa điểm căn cứ Cục Hậu cần Quân giải phóng miền Nam Việt Nam 1973-1975 gồm 3 quần thể chính: Nhà bia Liệt sỹ và Nhà Truyền thống Cục Hậu cần Miền B2, Nhà bia và Nhà thờ hơn 9.000 liệt sĩ quân dân y và thương binh bệnh binh hy sinh tại các Bệnh viện, Đội Điều trị trong kháng chiến chống Mỹ; Nhà bia Bà Mẹ Việt Nam anh hùng và Liệt sỹ xã Lộc Hiệp.
Với những chiến công thầm lặng nhưng oanh liệt, lực lượng hậu cần đã góp công to lớn vào cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta.



