HÀNH TRÌNH TỪ NGƯỜI DU KÍCH ĐẾN VỊ TƯỚNG QUÂN ĐỘI CỦA NGUYỄN HỮU VỊ
Đỗ Vân Anh
HÀNH TRÌNH TỪ NGƯỜI DU KÍCH ĐẾN VỊ TƯỚNG QUÂN ĐỘI
Năm 1949, giữa những năm tháng cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra quyết liệt, ông tham gia lực lượng du kích xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Từ một người con của quê hương, ông từng bước trưởng thành trong chiến đấu và được giao đảm nhiệm cương vị Xã đội trưởng xã Châu Bình. Cũng trong năm ấy, ông vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là dấu mốc quan trọng, mở ra chặng đường dài gắn bó với sự nghiệp cách mạng và quân đội của ông.
Những năm sau đó là quãng thời gian đầy gian khổ và thử thách. Từ năm 1956 đến năm 1959, ông bị địch bắt và giam cầm tại Nhà tù Quy Nhơn và Nhà tù Phú Lợi. Trong cảnh tù đày, những đòn tra tấn và sự khắc nghiệt của nhà tù không thể khuất phục được ý chí của người chiến sĩ cách mạng. Tháng 10 năm 1959, ông được thả tự do. Trở về quê hương, ông không lựa chọn cuộc sống bình yên mà tiếp tục hoạt động cách mạng, kiên trì bám đất, bám dân.
Năm 1960, phong trào cách mạng ngày càng phát triển, ông tham gia bộ đội huyện Giồng Trôm. Với năng lực chỉ huy và kinh nghiệm được tôi luyện qua thực tiễn, ông lần lượt đảm nhiệm các cương vị Trung đội trưởng rồi Đại đội trưởng Đại đội 261.
Tháng 4 năm 1964, một bước trưởng thành mới đến với người cán bộ quân sự ấy. Ông được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 516 – tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của tỉnh Bến Tre. Trên cương vị người chỉ huy, ông cùng cán bộ, chiến sĩ tổ chức chiến đấu, xây dựng đơn vị và trưởng thành trong những năm tháng chiến tranh ác liệt.
Không chỉ trưởng thành từ thực tiễn chiến trường, ông còn chú trọng học tập, nâng cao trình độ quân sự. Từ năm 1965 đến năm 1966, ông theo học tại Trường Quân chính Miền. Những kiến thức quân sự được trang bị trong thời gian học tập đã góp phần giúp ông có thêm cơ sở để đảm nhiệm những trọng trách lớn hơn trong quá trình chiến đấu sau này.
Từ tháng 1 năm 1967 đến tháng 12 năm 1968, ông giữ chức Tỉnh đội phó Tỉnh đội Bến Tre. Đây là thời kỳ cuộc chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ diễn ra vô cùng quyết liệt. Người cán bộ quân sự ấy tiếp tục được tôi luyện qua thực tiễn chỉ huy và từng bước khẳng định năng lực của mình.
Từ tháng 1 năm 1969 đến tháng 10 năm 1972, ông lần lượt giữ các cương vị Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2, Quân khu 8. Trên cương vị người chỉ huy cấp trung đoàn, ông phải đối mặt với những yêu cầu ngày càng cao của chiến trường. Mỗi trận đánh, mỗi nhiệm vụ đều là một lần thử thách bản lĩnh, khả năng tổ chức và nghệ thuật chỉ huy của người cán bộ quân đội.
Sau những năm tháng trực tiếp chiến đấu, từ tháng 11 năm 1972 đến tháng 12 năm 1973, ông tiếp tục được cử đi học bổ túc Trung cao Miền. Việc học tập không chỉ giúp ông củng cố kiến thức quân sự mà còn chuẩn bị cho những nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến.
Từ tháng 1 năm 1974 đến tháng 3 năm 1975, ông đảm nhiệm chức vụ Tham mưu phó Quân khu 8. Khi cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn quyết định, ông cùng tập thể lãnh đạo, chỉ huy Quân khu 8 tham gia công tác tham mưu, tổ chức lực lượng và chuẩn bị cho những nhiệm vụ chiến lược.
Tháng 4 năm 1975, đất nước bước vào thời khắc lịch sử. Ông được giao nhiệm vụ Phó Tư lệnh Sư đoàn 8. Cùng với quân và dân cả nước, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 8 tiến vào những ngày tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh, góp phần làm nên thắng lợi của mùa Xuân năm 1975, đưa đất nước đi đến ngày thống nhất.
Sau ngày đất nước thống nhất, người chiến sĩ năm nào tiếp tục gắn bó với quân đội và quê hương. Từ tháng 2 năm 1977 đến năm 1990, ông giữ cương vị Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bến Tre, thuộc Quân khu 9. Trên cương vị mới, ông tiếp tục đóng góp sức mình vào công tác xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng và bảo vệ quê hương trong thời kỳ đất nước bước sang một chặng đường mới.
Với quá trình phấn đấu, chiến đấu và cống hiến lâu dài, năm 1985, ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Từ một người du kích xã Châu Bình năm 1949, trải qua những năm tháng tù đày, chiến đấu và trưởng thành qua nhiều cương vị chỉ huy, ông đã trở thành một cán bộ quân đội cấp cao, gắn bó gần như trọn đời mình với sự nghiệp cách mạng.
Năm 1991, sau hơn bốn thập niên hoạt động cách mạng và phục vụ trong quân đội, ông được Đảng, Nhà nước và Quân đội cho nghỉ hưu.
Nhìn lại chặng đường đã qua, cuộc đời quân ngũ của ông là một hành trình nhiều gian khổ nhưng cũng đầy vẻ vang: từ người Xã đội trưởng giữa vùng quê Châu Bình, đến người chỉ huy các đơn vị chủ lực, rồi cán bộ chỉ huy cấp Quân khu. Mỗi bước trưởng thành đều được đánh đổi bằng những năm tháng chiến đấu, học tập, chịu đựng gian khổ và cống hiến không ngừng nghỉ. Đó không chỉ là câu chuyện về một người lính, mà còn là một lát cắt của lịch sử chiến tranh cách mạng ở Bến Tre và Nam Bộ.



