Hành trình vào Nam, hồi ức Thiếu tướng Lê Quang Viễn

Vào Nam
Chuyến xe đưa đoàn chúng tôi gồm 28 người đi suốt hai ngày một đêm mới đến được Vĩnh Linh. Chúng tôi dừng chân lại một doanh trại bộ đội chờ trời tối chuẩn bị vượt sang bên kia vĩ tuyến 17. Nơi chúng tôi qua sông là làng Ho của người Vân Kiều nằm dọc theo phía Tây Trường Sơn thuộc huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình. Nói là sông chớ thật ra chỉ là con suối nhỏ. Các anh đưa tôi đến đây rồi quay về. Tất cả những gì thuộc về miền Bắc phải kiểm tra lần nữa và bỏ lại hết. Hồi ở miền Hà Nội, chúng tôi đã bỏ lại một lần rồi nhưng có vài anh em luyến tiếc những kỷ vật nên có mang theo thì giờ đây cũng phải đành bỏ lại. Mỗi người chỉ mang trên mình chiếc ba lô nặng 36 kg gồm quần áo, thuốc trị bệnh và lương thực dữ trự cho 7 ngày đường. Vũ khí, mỗi người được mang hai khẩu súng. Tôi chọn cho mình một khẩu carbine và một súng ngắn. Đạn mang theo bao nhiêu tùy thích. Tuy nhiên suốt cả chặng đường từ đó về đến Trung ương cục miền Nam chúng tôi chưa một lần nào nổ súng với địch vì sợ lộ bí mật.
Cắt rừng mà đi, vừa đi vừa tổ chức làm sao cho được những trạm giao liên đưa đón tạo điều kiện thuận lợi cho các đoàn sau này. Ngày ấy, chúng tôi đâu nghĩ rằng mình là một trong những người góp phần khai mở con đường Trường Sơn huyền thoại. Một số trạm giao liên của đoàn B500 ngày đó dần dần trở thành những binh trạm hùng mạnh giữa rừng Trường Sơn, suốt cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc đã đón đưa không biết bao nhiêu lượt người trùng trùng tiến ra mặt trận giải phóng miền Nam. Đêm đầu tiên qua sông Bến Hải, đoàn dừng chân ngủ giữa rừng. Vùng đất đầu tiên chúng tôi đặt chân lên là Quảng Trị - Thừa Thiên thuộc khu V. Lúc đó, khu V đã có liên hệ thường xuyên với miền Bắc nên việc anh em địa phương cử người ra đón chúng tôi còn tương đối dễ dàng. Hầu như dọc theo khu V, nơi đoàn qua đều có tổ chức sẵn trạm liên lạc. Đường thì phải leo núi, xuyên rừng mà đi. Ba ngày đầu tiên ai cũng thấm mệt vì không quen với những vất vả gặp phải. Chui qua rừng chằng chịt dây leo, người qua lọt thì ba lô đằng sau vướng lại. Phải loay hoay gỡ ba lô ra rồi mới đi tiếp. Có những con dốc cao trên 60 độ, gót giày người leo trước như giẫm lên đầu người sau mà bước. Rồi còn gặp phải đá rớt. Vô ý để một tảng đá rơi sẽ kéo theo cả một góc núi sạt lở. Mỗi khi gặp đá lăn như vậy thì phải dừng lại nép người vào gốc cây. Đá lăn ngang người nào tìm cách ôm chặn nó lại không để tiếp tục rơi nhanh xuống nữa. Tôi cũng đã có lần ôm ghì một hòn đá giập cả mấy đầu ngón tay. Thấy gian nan nguy hiểm, quá một số anh em đề nghị xuống núi chọn con đường gần bản làng có người qua lại để đi dễ và mau tới hơn. Lúc đó chúng tôi lại nhớ đến lời Bác dạy trước lúc chia tay miền Bắc. Kỳ lạ thay khi nhắc đến Bác tự dưng chúng tôi lại hừng hực quyết tâm vững bước lên đường. Thêm mấy ngày cắt rừng nữa, chúng tôi đến ngã ba Khe Sanh. Vượt đường cái thì sợ chạm trán với toán tuần tiễu của đích liên tục qua lại. Trên núi có một cái cống thoát nước do Pháp xây. Chúng đóng một cái bót ngay trên nóc cống. Phải mất bốn ngày dừng lại nghiên cứu, đoàn mới tìm ra lối đi. Chờ đêm xuống chúng tôi vượt đường rừng chui qua hang. Người đi trước gắn lên ba lô mình một thanh củi mục. Người đi sau nhìn theo ánh sáng lân tinh phát ra từ thanh củi ấy mà đi theo. Tốp đầu qua được nhưng tốp sau nhìn những ánh sáng cũng từ củi mục phát ra hai bên đường tưởng là trên ba lô đồng đội thành ra bị lạc. Phải quay lại tìm kiếm. Gần sáng chúng tôi mới lọt qua được miệng cống bên kia chui vào rừng đi tiếp.
Tết năm 1960, chúng tôi dừng lại ở Quảng Trị ăn Tết và chờ bắt liên lạc với phía trước. Nhiều anh em đuối sức đành phải bỏ bớt đồ dùng cá nhân. Có người chỉ chừa lại một bộ quần áo duy nhất mặc trên người. Thậm chí dây thắt lưng vừa đến đâu chừa đến đó, đoạn thừa ra phải cắt bỏ. Đồ đạc để lại đem vô rừng chôn thật kỹ để tránh địch phát hiện. Lúc đầu, mỗi người mang theo lỉnh kỉnh những lon gô đựng thuốc, lon nấu cơm, lon nấu nước uống. Nay thì thuốc cho vào túi ni lon, ba người thành một tổ chừa lại ba lon gô. Có đồng chí ngay cả gạo dữ trữ cũng không mang nổi, anh em trong đoàn phải chia nhau ra mang tiếp. Ăn cơm với lương khô và canh rau rừng liên tục, đoàn chúng tôi ai cũng bắt đầu xuất hiện dấu hiệu xuống sức. Bác sĩ Thanh, mang trên mình bộ đồ phẫu thuật nặng năm ký, anh em chia nhau tiếp chỉ còn lại một ký mà vẫn đi không muốn nổi. Hai tiếng miền Nam lúc đó hơn bao giờ hết lại vang lên trong tim thúc giục chúng tôi bằng mọi giá phải vượt qua tất cả. Cố gắng lắm, đoàn mới đến được Sơn Hà – Kon Tum. Dừng lại chờ móc nối liên lạc với tuyến trước. Tại Kon Tum lúc này, lực lượng vũ trang địa phương đã nổi dậy cướp chính quyền giải phóng một số xã. Nhu cầu của địa phương cần chúng tôi huấn luyện một thời gian. Nhìn cảnh đồng bào khổ sở, vất vả chúng tôi không đành bỏ đi cho được. Một tổ tìm cách bắt liên lạc. Tổ khác làm nhiệm vụ huấn luyện quân sự. Anh em còn lại vào rừng vừa cùng bà con lên nương trồng sắn vừa giáo dục công tác tư tưởng. Riêng bác sĩ Thanh phụ trách giảng dạy cho một số chị em người dân tộc về chính trị và cách băng bó vết thương, sử dụng các loại thuốc thông thường để trị bệnh. Tôi, đồng chí Vẻ và đồng chí Tân huấn luyện quân sự. Hai tháng ở Kon Tum, chúng tôi dần hồi phục sức khỏe. Nhưng cái được và cái vui hơn là chúng tôi đã huấn luyện cho anh em du kích ở đây nhiều bài học về quân sự khác nhau như đặc công, trinh sát, bộ binh phối hợp. Sau lớp học, anh em còn được tổ chức thi bắn đạn thật. Trường bắn sâu tít trong rừng. Bia bắn là thân cây rừng. Bắn xong, đẽo vỏ cây xóa hết dấu vết để giữ hoàn toàn bí mật. Ở Kon Tum đoàn chúng tôi tổ chức nơi đây một trường huấn luyện quân sự cấp tốc và xây dựng mô hình một ấp chiến đấu.
Lúc này, qua đài chúng tôi biết tình hình chiến sự miền Nam có nhiều thay đổi lớn. Lực lượng vũ trang nổi lên đồng loạt khắp nơi. Anh em trong đoàn ruột gan nóng cồn cào muốn sớm lên đường nhưng vẫn chưa bắt liên lạc được với tuyến trước nên đành tiếp tục ở lại chờ đợi. Chúng tôi lại từng tổ chia nhau huấn luyện từng nội dung một. Cách sử dụng vũ khí. Công tác đặc công. Cách di dời làng khi bị địch tấn công. Đặc biệt sử dụng các loại bẫy đá, nỏ, cung tên của chính người dân tộc làm vũ khí đánh trả. Tôi kết hợp với những điều học được trong thời chiến tranh chống Pháp, ở nhà trường và tình hình thực tế địa phương viết thành quyển sách hướng dẫn dùng vũ khí tự tạo đánh địch.
Liên lạc với phía trước đã thông, đoàn chia tay bà con lên đường. Qua Kon Tum, Đắc Lắc đến Ngã ba Biên giới. Nam bộ hiện ra trước mắt chúng tôi khiến ai cũng bàng hoàng xúc động không nói thành lời. Lúc đoàn đi, mang theo bản đồ vẽ từ năm 1931. Nay mọi địa hình địa vật hoàn toàn thay đổi. Nhiều bản làng trong bản đồ đã di dời không còn chỗ cũ nữa. Liên lạc ở Nam bộ chưa ra kịp. Cả đoàn phải nhịn đói bảy ngày trong rừng, ăn củ mài, môn nước và những thứ có thể tìm được để cầm hơi chờ đợi. Phía sau chúng tôi là khu V, lui lại một chút là có lương thực ngay nhưng trong chúng tôi không một ai dám lui. Tình hình khu V lúc đó đang thiếu cán bộ nhất là cán bộ quân sự trầm trọng, sợ lui về các anh giữ lại thì không sao về được Nam bộ.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.

Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp Lê Quốc Phong trao Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng cho Thiếu tướng Lê Quang Viễn. Ảnh: Cổng thông tin điện tử tỉnh Đồng Tháp.
Chín ngày trôi qua. Cả đoàn quyết định băng rừng qua quốc lộ 14. Trong kia, các anh cũng cử người ra đón. Đêm đó, chúng tôi ngồi bên bìa rừng chờ liên lạc. Gặp được các anh, chúng tôi ùa ra ôm chầm khóc không thành tiếng. Cả đoàn đi trong các phum, sóc như chạy, đôi chân cứ líu ríu, cuống quýt vì mừng. Nam bộ đây rồi ! Niềm khát khao vô hạn được trở về Nam chiến đấu đã trở thành hiện thực. Tháng 12/1959, từ Hà Nội chúng tôi lên đường. Tháng 12/1960, chúng tôi về tới chiến khu Đ. Một năm ròng với bao khó khăn, 28 anh em trong đoàn vẫn nguyên vẹn, không một ai phải ở lại dọc đường. Vậy là chúng tôi đã hoàn thành lời hứa với Bác, với Đảng. Sau bảy ngày ở chiến khu Đ, đoàn đến Xứ ủy báo cáo và nhận nhiệm vụ. Đoàn chúng tôi còn vinh dự tham gia cuộc mít tinh ra mắt Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra mắt ngày 20/12/1960 tại Bời Lời – Tây Ninh. Sau đó, tôi cùng 4 đồng chí khác được phân công về T3 (khu 9). Một chặng đường chiến đấu khác gian khổ hiện ra trước mắt nhưng tôi vẫn vững niềm tin vào ngày thắng lợi cuối cùng.
Nguồn: Hội Trường Sơn đường Hồ Chí Minh



