Khác

Hào khí Đầm Đen

Hào khí Đầm Đen

21/03/2026Đoàn xã Phong Thổ (sưu tầm) (Đoàn xã Phong Thổ (sưu tầm))2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hào khí Đầm Đen

QK2 – Nơi miền rừng núi trập trùng và dòng sông Lô, sông Hồng uốn khúc, có một nghĩa quân của phong trào khởi nghĩa Cần Vương đã dấy binh, vượt núi, vượt sông để lập căn cứ kháng chiến trong những ngày đầu chống thực dân Pháp. Đó là nghĩa quân của Tham Tán Lê Đình Dật tại căn cứ Đầm Đen nơi núi rừng. ÂM VANG ĐẦM ĐENDừng chân ở một làng quê trung du thanh bình, yên ả của tỉnh Phú Thọ, xung quanh là những triền núi nhấp nhô, trùng điệp, những cánh rừng bạt ngàn tre trúc, những con đường làng uốn quanh đồng lúa xanh thẳm, chúng tôi được người dân nơi đây kể cho nghe câu chuyện về Tán Dật (Tham Tán Lê Đình Dật) và căn cứ khởi nghĩa Đầm Đen. Qua lời kể và tìm hiểu từ những tư liệu lịch sử còn ghi chép lại, được biết, Lê Đình Dật là người xã Lang Sơn, tổng Ấm Hạ (nay là xã Vĩnh Chân, Phú Thọ), không rõ năm sinh. Ông sinh ra và lớn lên vào giữa thế kỷ XIX. Thân sinh của ông là cụ Lê Đình Đoàn vả bà Bùi Thị Ánh, sinh hạ được 2 người con, Lê Đình Dật là con trai trưởng.Bia di tích tại Đền thờ Tham Tán Lê Đình Dật.Từ nhỏ, Lê Đình Dật học hành thông minh, sáng dạ, sau vào làm quan trong triều tới chức Tham Tán (Tán Tương Quân Vụ Lê Đình Dật), thường gọi là Tán Dật, ông được triều đình giao làm nhiệm vụ ở Thành Sơn Tây. Tán Dật sinh hạ được 10 người con (6 trai, 4 gái). Khi Vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương, Tán Dật cũng rời khỏi kinh thành, trở về quê hương cùng quan tuần phủ là Nguyễn Quang Bích và các sĩ phu khác tổ chức cuộc kháng chiến ở vùng trung du Phú Thọ. Sau những trận chiến ác liệt bảo vệ thành Sơn Tây, Tán Dật cùng Bố Giáp, Lãnh Mai rút về xây dựng căn cứ ở Thanh Mai, Thạch Bơn (Phú Thọ).Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, hạ chiếu Cần Vương kêu gọi Nhân dân cả nước đứng lên kháng chiến. Sau những trận chiến đấu quyết liệt, quân đội của Bố Giáp cùng các cánh quân khác của Đốc Mai, Tán Dật rút khỏi Sơn Tây về lập căn cứ ở Thanh Đình, Thạch Sơn (Phú Thọ). Ngày 12/4/1884, quân Pháp tiếp tục đánh thành Hưng Hóa. Do tương quan lực lượng, tuần phủ Hưng Hóa là Nguyễn Quang Bích rút quân ra ngoài, tiếp tục tổ chức kháng chiến. Sau nhiều lần thay đổi địa điểm, Nguyễn Quang Bích đã quyết định chọn Tiên Động (nay ở xã Tiên Lương, Phú Thọ) làm căn cứ kháng chiến lâu dài.Ngày 20/10/1885, thực dân Pháp cho quân tiến vào căn cứ Thanh Mai theo 3 đường như 3 gọng kìm kẹp chặt: Đường sông Lô, sông Hồng, Cao Xá. Mỗi đạo quân gồm 2 tiểu đoàn bộ binh, 2 khẩu đội pháo và 4 khẩu 95 ly. Khi đạo quân Pháp thứ 2 tiến qua Cao Mại, Sơn Vi vào đến Thạch Sơn đã gặp phải cánh quân do Tán Dật chỉ huy chặn đánh quyết liệt, gây cho địch những tổn thất và làm chậm bước tiến của chúng. Vì vậy, ngày 24/10/1885, địch mới vào sát được Thanh Mai. Tại đây, chúng gặp phải sức chiến đấu mãnh liệt, kiên cường của nghĩa quân do Bố Giáp, Lãnh Mai và Tán Dật chỉ huy. Cho tới ngày 27/10/1885, địch mới chiếm được Thanh Mai. Nghĩa quân rút lui an toàn, còn thực dân Pháp thiệt hại khá nặng nề.Sau khi rút lui khỏi Thanh Mai, nghĩa quân ngược sông Hồng, chia làm đôi: Bố Giáp sang Tiên Động hợp lực với Nguyễn Quang Bích, còn Tán Dật về Vĩnh Chân (Phú Thọ) xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài. Tại đây, dựa vào địa hình đầm sâu, rừng rậm hiểm trở, sự ủng hộ của Nhân dân, Tán Dật đã chọn Đầm Đen ở thông Phi Đình làm nơi xây dựng căn cứ. Đầm Đen là đầm rộng, có nhiều ngóc ngách ăn sâu vào các chân núi, nằm cách sông Hồng 8km. Thời kỳ đó, có ngách thông về sông Hồng và đầm Ao Châu. Diện tích mặt đầm là 20.000m2. Đặc biệt, nước ở đây quanh năm có màu đen, cả cá tôm trong đầm cũng có màu đen nên dân trong vùng thường gọi là Đầm Đen.Nơi đây, cây cối um tùm, lau sậy rậm rạp, không có nhà dân, không có đường đi lối lại. Nghĩa quân đi lại bằng thuyền nhẹ, đóng quân trên những ngọn đồi rậm rạp quanh đầm. Lương thảo chủ yếu dựa vào dân, rừng tự nhiên. Lực lượng nghĩa quân chủ yếu dựa vào cánh quân đã theo Tán Dật từ Sơn Tây, Thạch Sơn lên và một số trai tráng địa phương. Vũ khí sử dụng rất thô sơ, chủ yếu là mã tấu, gươm, kiếm, súng kíp. Tại Đầm Đen, Tán Dật cho xây đại bản doanh tại gò Cây Si (xưa kia có một cây si rất to), còn nghĩa sĩ đóng binh ở những ngọn đồi xung quanh.Sau khi xây dựng Căn cứ và củng cố lực lượng, Tán Dật bắt đầu cho quân vượt sông Hồng, phối hợp với quân của Nguyễn Quang Bích ở Tiên Động tập kích vào các đồn bốt của địch. Tiêu biểu là trận đánh ngày 25/11/1889, hằng trăm nghĩa quân với 70 súng và gươm, giáo đã cùng một lúc tiến quân đồn Ngòi Lao và huyện lỵ Hạ Hòa, bắn trọng thương tên tri huyện. Trên dải sông Thao, đồn Ngòi Lao (Bằng Giã, Hạ Hoà) là đồn lớn nhất của thực dân Pháp (do tên Đại úy Béc-măng-mông-ty chỉ huy), Tán Dật đã 4 lần cho quân vượt sông sang đánh thẳng vào đồn Ngòi Lao. Các trận chiến đều diễn ra ác liệt, làm cho địch hoang mang, lúng túng và gây tổn thất nặng nề.“SINH VI TƯỚNG, TỬ VI THẦN”Tại căn cứ Đầm Đen, nghĩa quân cũng tổ chức chiến đấu, chặn đánh lại các trận càn của địch. Ở ngách phía Tây thông với sông Hồng, Tán Dật cho đắp bờ cao làm cho nước dâng lên, không cho địch có đường tiến vào căn cứ (địa điểm này ngày nay vẫn còn dấu tích bờ đập). Dân làng quanh vùng Lang Sơn vẫn kể lại câu chuyện: Quan Tán hạ lệnh cho binh sĩ mỗi người chuẩn bị một tải ổi xanh, khi quân địch đến thì lăn ra đường cho chúng trượt ngã. Đối phó lại, bọn giặc bằng cách tìm vứt những đồng xu vào búi tre rậm, người muốn lấy được những đồng xu phải chặt hết tre, từ đó mà phá dần chiến lũy.Đền thờ Tham Tán Lê Đình Dật tại khu 5, xã Đan Thượng (Phú Thọ), ngôi đền do dòng họ Lê xây dựng năm 2001.Sau những trận tấn công vào căn cứ không thành công, thực dân Pháp mở một trận quyết định đánh vào Đầm Đen nhằm san phẳng chiến lũy này. Cuộc chiến diễn ra ác liệt tại gò Bồ Đề (còn gọi là gò Cao) nằm giữa vùng căn cứ. Do tương quan lực lượng và vũ khí, nghĩa quân bị tổn thất nặng nề, không thể cầm cự được. Tán Dật cho quân rút theo đường về núi Hạ Hoà rồi sang Bằng Luân (Phú Thọ). Tại đây, ông lại tiếp tục xây dựng căn cứ giữa vùng đầm gò thuộc thôn Cổ Tích.Đầu năm 1893, thực dân Pháp đánh tới đây, trận chiến bảo vệ căn cứ diễn ra ác liệt. Biết không thể cầm cự được, Tán Dật đành giải tán binh sĩ, sau đó ông đã uống thuốc độc tự tử. Trước khi chết ông còn nói: “Ta nhất định không chịu nhìn thấy mặt thằng Tây”. Đó là ngày 18/2 Quý Tỵ, 1893, cũng là năm cuối cùng chấm dứt phong trào Cần Vương chống Pháp trên đất Phú Thọ, khi các thủ lĩnh lần lượt hy sinh hoặc bị sa vào tay giặc. Khi chết, Tán Dật khoảng 50 tuổi. Tương truyền rằng, sau khi Tán Dật chết, con ngựa của cụ đã bỏ ăn ba ngày rồi chết. Hài cốt của cụ được chôn cất, trên đặt 1 thanh kiếm, 1 con ngựa sắt cùng chôn dưới mộ. Nhân dân tưởng nhớ công lao đã tặng cụ câu thơ: “Sinh vi tướng, tử vi thần” (Nghĩa là: Sống làm tướng, chết làm thần).Ngày 25/10/2002, căn cứ Đầm Đen đã được UBND tỉnh Phú Thọ công nhận, xếp hạng là Di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh. Tại xã Tiên Lương (Phú Thọ), Tham Tán Lê Đình Dật được xếp vào hàng quan văn, được phối thờ tại Đền Tiên Động, di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia thờ Nguyễn Quang Bích. Năm 2001, dòng họ Lê đã xây dựng ngôi đền thờ quan Tán Dật tại khu 5, xã Đan Thượng (Phú Thọ). Năm 2023, ngôi đền được xây mới trên nền cũ khang trang trên đỉnh gò Chùa. Hằng năm, cứ đến ngày 18/02 (âm lịch), con cháu lại tề tựu về làm giỗ cụ. Trải qua thời gian và sự biến thiên của lịch sử, tên tuổi, sự nghiệp của Tham Tán Lê Đình Dật và Căn cứ Đầm Đen vẫn được sử sách nhắc đến như một mốc son hào hùng trong cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Nhân dân trong vùng cùng các thế hệ con cháu dòng họ Lê Vĩnh Chân (Phú Thọ) luôn giáo dục truyền thống cho các thế hệ về tấm gương, lòng yêu nước của quan Tán Dật. Văn bia tưởng niệm Tham Tán Lê Đình Dật có ghi: “1883-1893 mười năm chặng đường chống Pháp của cụ Tán Dật tạc ghi dấu ấn sử sách sáng ngời của lòng yêu nước, chống lại sự đàn áp bóc lột của thực dân đế quốc, đã để lại cho hậu thế tấm gương chói lọi muôn đời. Hơn 100 năm sau, các thế hệ hậu sinh của cụ Tán Dật nguyện học tập con đường cụ đã đi”.Ông Lê Xuân Đài (92 tuổi, chút của Tham Tán Lê Đình Dật) chia sẻ: “Nhân dân và dòng họ Lê luôn tưởng nhớ, tri ân công đức của quan Tán Dật bằng những việc làm cụ thể như xây cất lăng mộ của cụ được khang trang, hương khói phụng thờ cụ, giáo dục cho các thế hệ con cháu luôn noi gương cụ mà học hành thành tài”.Mười năm dấy binh chống Pháp trên vùng rừng núi trung du Phú Thọ, Tham Tán Lê Đình Dật đã cùng các nghĩa sĩ một lòng hướng về ngọn cờ Cần Vương, vượt núi, vượt sông đánh thẳng vào đồn giặc với một ý chí quyết tâm cao độ. Mặc dù hy sinh tổn thất và đau thương sau những cuộc tấn công nhưng Lê Đình Dật đã giáng những đòn chí mạng vào âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, khích lệ tinh thần và ý chí đánh đuổi kẻ thù của Nhân dân. Tấm lòng trung nghĩa sắt son của Tham Tán Lê Đình Dật đã ghi tạc vào lịch sử chống Pháp thời kỳ đầu trên vùng đất trung du Phú Thọ nói riêng và cả nước nói chung.Bài, ảnh: NGUYỄN THẾ LƯỢNG

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn