Bài viết

HÀO KHÍ MỘT THỜI HOA LỬA – PHAN CHÂU TRINH, KHÍ HỒN CỦA DÂN TỘC

Đà Nẵng29/12/2025Trường THPT Phan Châu Trinh (Trường THPT Phan Châu Trinh)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Gió chiều thổi qua những rặng tre già, mang theo tiếng vọng mơ hồ của thời gian. Ở làng Tam Lộc năm ấy, người ta vẫn truyền nhau câu chuyện về một người thanh niên gầy gò nhưng đôi mắt sáng như lửa — Phan Châu Trinh, người đã dành cả đời để đánh thức hồn dân tộc.

Sinh năm Nhâm Tuất ngày 9 tháng 9 năm 1872 niên hiệu Tự Đức 26, tự là Tử Can, hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu là Hi Mã, là người làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh), tỉnh Quảng Nam ( thành phố Đà Nẵng). Thân sinh của cụ là Phan Văn Bình làm quan võ – sau này trở thành một nhân sĩ trong phong trào Cần Vương, và có mẹ là Lê Thị Trung, một con người đức hạnh, hiền thục và là con gái của một gia đình danh gia vọng tộc tại làng Phú Lâm (Tiên Phước - Quảng Nam). Cụ Phan Châu Trinh là người con thứ ba trong gia đình, có hai anh là Phan Văn Cừ và Phan Văn Uyển, em gái là Phan Thị Ngưu. Sau này khi lập gia đình cụ lấy bà Lê Thị Tỵ làm vợ và sinh ra ba người con là Phan Châu Dật, Phan Thị Châu Liên và Phan Thị Châu Lan.

Khi cụ ra đời cũng là khi xã tắc lâm nguy, bà con bách tính chìm ngập trong lầm than. Có chăng, vì vậy mà trái tim cụ đã được hun đúc nên một tình thương dân mến nước vô cùng sâu sắc đến vậy. Khi còn nhỏ cụ đã là người thông minh, khẳng khái. Cụ đi tới đâu nổi tiếng đến đó, việc không kể lớn nhỏ cứ lấy lẽ phải mà tranh biện. Đến năm 27 tuổi, được tuyển vào trường tỉnh và học chung với Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến, Phan Quang, và Phạm Liệu. Khoa Canh Tý (1900), cụ đỗ cử nhân thứ ba ở trường Thừa Thiên. Năm sau (1901), triều đình mở ân khoa, cụ đỗ phó bảng, đồng khoa với tiến sĩ Ngô Đức Kế và phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Đến năm 1902 cụ ở Huế để chờ bổ nhiệm chức vụ, tuy nhiên do anh cả của cụ mất nên cụ đã về nhà để dạy học. Năm 1903 cụ lại được cử làm Thừa biện bộ Lễ. Trong khoảng thời gian ở Huế, cụ hăng say nghiên cứu và tìm kiếm nguyên nhân hủ bại của triều đình, đồng thời lại được giao du được với những người tân học như Trần Trọng Huề, Đào Nguyên Phổ, lẫn việc chăm đọc sách báo mới, đã vẽ nên trong tâm trí của người chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh một tư tưởng đầy mới mẻ, khác biệt so với những cuộc cách mạng mang tính chất vũ trang, bạo động, cụ đã vạch nên một đường lối cách mạng mang tính chiến lược đó là canh tân xã hội, cải cách tư tưởng nhằm phát triển một xã hội tiến bộ, tự cường, đánh đổ chế độ phong kiến, thực hiện cải cách xã hội trên mọi mặt. Sau này, người chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh cùng với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp đã khởi xướng nên phong trào Duy Tân với phương châm “Tự lực khai hóa” và khẩu hiệu đã trở thành bất hủ “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Và cũng nhờ vào phong trào Duy Tân ấy mà nền giáo dục đã có những bước tiến mới vượt bậc, phát triển được kinh tế và thay đổi tư tưởng, văn hóa, đồng thời các hoạt động của phong trào đã tạo ra một cuộc cách mạng về văn hóa và giáo dục, tạo tiền đề cho các phong trào yêu nước sau này.

Trong những năm hoạt động cách mạng, cụ đã có những lần bị thực dân Pháp bắt giữ, nhưng trái tim bất khuất cùng dòng máu nóng chảy trong mình 4 tiếng “thương nước yêu nòi” đã viết tiếp nên cho trang sử hào hùng của cả dân tộc một mốc son chói lói đến khôn cùng. Cụ Phan Châu Trinh đã để lại những giá trị đầy mới mẻ về tư tưởng cách mạng sâu sắc đánh sâu vào trọng tâm gốc rễ của việc giải phóng một dân tộc không chỉ được làm nên bởi việc chiến thắng quân thù mà còn là sự học hỏi, đổi mới, và phát triển tư tưởng tiến bộ, làm mới mẻ nền văn hóa, xã hội của cả một dân tộc.

Không gì hơn một lời cảm ơn chân thành, và trái tim đầy biết ơn trước công lao to lớn và vô giá của cụ Phan Châu Trinh. Dân tộc Việt Nam ta có được tự do và độc lập như ngày hôm nay là nhờ vào từng đôi bàn tay của mỗi người dân vun đắp mà thành, trong xã hội ấy người dân nào cũng là một vị anh hùng thực thụ và người dẫn dắt những vị anh hùng ấy là ngọn đèn soi sáng, mở ra đường lối đúng đắn nhất để chúng ta có thể giành lấy và bảo vệ được tự do, độc lập của chúng ta.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn