HÀO KHÍ MỘT THỜI: TRÁNG SĨ PHẠM NGŨ LÃO

Tôi là Phạm Ngũ Lão, sinh ra ở làng Phù Ủng, một miền quê yên ả của Đại Việt. Thuở nhỏ, tôi không có gì khác biệt so với bao người nông dân khác: quen tay dệt rổ, quen gùi lúa, quen tiếng gió thổi qua đồng. Nhưng trong lòng tôi, từ rất sớm, đã có một nỗi thôi thúc kỳ lạ – một tiếng gọi của sông núi. Mỗi lần nghe người lớn kể chuyện quân Nguyên – Mông từng khiến cả châu Á khiếp sợ, lòng tôi lại nóng như lửa. Tôi nghĩ về vận nước nhiều hơn nghĩ về cái nghèo của nhà mình.
Một buổi chiều, khi tôi đang ngồi bên vệ đường dệt rổ, đầu óc lại mải mê tưởng tượng những thế trận, những bước hành quân nếu một ngày quân giặc tiến xuống. Một kẻ đi đường vướng phải tôi, tức giận đâm thẳng mũi giáo vào đùi tôi. Máu tôi chảy, nhưng đầu óc tôi vẫn chìm vào suy tính. Người qua đường hốt hoảng hỏi sao tôi không kêu lên, tôi chỉ đáp: “Ta đang nghĩ đến việc đánh giặc.” Không ngờ câu nói ấy đến tai Quốc Công Tiết Chế Trần Hưng Đạo. Ngài sai người gọi tôi đến. Ánh mắt của ngài hôm ấy sắc như nhìn thấu tâm can tôi, nhưng cũng ấm như của người muốn nâng đỡ kẻ có chí. Ngài thu nhận tôi, gả con gái nuôi cho tôi, dạy tôi binh pháp, mở đường cho tôi bước vào đời binh nghiệp.
Từ ngày ấy, cuộc đời tôi rẽ sang một con đường mới. Tôi theo quân của ngài đi khắp các trại, luyện cung, luyện thương, học cách dựng doanh, bố trận, đánh nhanh, rút gọn. Người đời nói tôi là tướng tài không thuộc hoàng tộc, nhưng chính tôi lại luôn coi mình là người lính đầu tiên, người tỳ tướng của dân.
Khi quân Nguyên – Mông tràn xuống lần thứ hai, rồi lần thứ ba, khí thế của chúng mạnh như bão lửa. Tôi cùng Hưng Đạo Vương và các tướng giữ mặt trận, đánh chặn kỵ binh giặc, tham gia những trận quyết chiến giữ sông, giữ thành. Khói lửa nhiều phen nhuộm đỏ bầu trời. Tôi từng chứng kiến chiến mã ngã gục, đồng đội hi sinh, nhưng trong lòng tôi lúc nào cũng có một điều không đổi: nếu Đại Việt còn tôi, thì tôi còn đứng.
Giặc rút rồi, tiếng vó ngựa giặc xa dần, tôi vẫn theo triều đình, tiếp tục việc giữ yên cõi bờ, mở mang biên giới. Nhưng thời bình là lúc con người dễ soi lại lòng mình nhất. Có những buổi tôi ngồi giữa doanh trại yên ắng, chỉ nghe tiếng gió qua mái lều, tự hỏi liệu công danh của mình đã xứng với kỳ vọng của đất nước chưa. Vì thế tôi viết Thuật hoài – một bài thơ nhỏ nhưng là tất cả nỗi lòng của tôi: sống giữa thời loạn lạc, thấy mình mang nợ với non sông, nợ với chí lớn, dù lập bao công vẫn cảm thấy chưa đủ.
Năm tháng trôi qua, tóc tôi cũng bạc dần. Nhìn lại, tôi hiểu rằng làm người anh hùng vốn không phải là vì lập nên công trạng lẫy lừng hay để tên tuổi đi vào sử sách. Tôi chỉ là một người trai làng bình thường, nhưng tôi đã sống thật với hoài bão, với trách nhiệm. Nếu có điều gì khiến đời tôi đáng nhớ, thì đó là tôi đã dám dành cả thanh xuân lẫn tuổi già để giữ lấy sự bình yên cho quê hương.
Và đến tận khi nhắm mắt, tôi vẫn tin rằng: một người dân áo vải, nếu mang trong lòng chí giữ nước, thì vẫn có thể đứng ngang hàng với những bậc tướng quân bốn phương.



