Hào khí ngực trẻ, dấu chân người đi trước
Ký ức Điện Biên Phủ từ bùn đất chiến hào hiện về qua lời kể của những chàng trai mười tám, đôi mươi thuở ấy, nay đã là những cụ già tóc bạc da mồi. Để chuẩn bị cho những trận đánh vây lấn địch, bộ đội ta phải lao động cật lực từ 14 đến 18 giờ mỗi ngày dưới làn bom đạn dữ dội của kẻ thù để đào những đường hào sâu 1,7 mét. Trong không gian chật hẹp, ẩm ướt ấy, những chiến sĩ công binh kiên cường như cụ Lại Văn Năm đã "lỳ lợm" đi đầu dò mìn trước sự canh gác nghiêm ngặt của quân Pháp sát các cứ điểm để bộ đội đưa bộc phá vào cửa mở. Họ đã cùng nhau "lấy thân mình đo bước chiến hào, đêm đêm vuốt mắt liệt sĩ" mà không hề sờn lòng, không tiếc máu xương vì độc lập Tổ quốc. Khốc liệt đến mức cụ Lê Ngọc Trác, người lính Đại đoàn 316 bị điếc đặc suốt đời vì bom đạn, khi nhớ về đồng đội cũ chỉ biết nghẹn ngào rơm rớm nước mắt: "Bom đạn mấy tầng thịt xương đồng đội hòa lẫn bùn khét lẹt... đồng đội bên tôi đều đã hy sinh không ai nói một lời, sau này là những ngôi mộ chưa có tuổi tên...".
Giữa những ngày đạn bom gầm thét trên Đồi A1 ấy, một phương án táo bạo đã được quyết định: đào một đường hầm ngầm đặt khối bộc phá khổng lồ nhằm tiêu diệt cứ điểm kiên cố của địch. Tiểu đội trưởng Phạm Bá Miều cùng đơn vị bắt đầu công việc đào hầm trong tư thế ngồi nghiêng như móc hàm ếch dưới lòng đất. Đất đồi rắn như đá, công việc ngụy trang cửa hầm phải làm vô cùng công phu để tránh tầm mắt của quân Pháp. Suốt 12 ngày đêm ròng rã, họ mới đào được khoảng 33 mét hầm và vận chuyển thành công 960kg thuốc nổ vào cuối hầm ngầm. Để hoàn thành nhiệm vụ này, 41 đồng chí của ông Miều đã anh dũng ngã xuống. Đêm 6/5, khối bộc phá kích nổ làm rung chuyển cả quả đồi, thổi bay chiếc lô cốt địch và mở đường cho quân ta xung phong chiếm lĩnh trận địa. Chiều tối ngày 7/5/1954, nghe tin toàn bộ quân địch tại khu trung tâm Điện Biên Phủ đã đầu hàng, những người lính trẻ ôm nhau nhảy múa reo hò trong nước mắt. Họ khóc vì sung sướng, và khóc vì nhớ đến những người đồng đội vừa ngã xuống trước giờ phút toàn thắng chỉ ít tiếng đồng hồ. Lời dặn dò của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi đến kiểm tra an táng liệt sĩ vào ngày 9/5: "Phải gắng tìm cho hết đồng đội của mình, không như thế là chúng ta có tội" đã hằn sâu vào tâm khảm người lính trẻ suốt cả cuộc đời.
Sự ngã xuống của hàng ngàn anh hùng thuở ấy đã hóa thân vào những nấm mộ không tên nơi nghĩa trang lịch sử. Ở Nghĩa trang quốc gia Đồi A1, trong số 645 phần mộ thì chỉ có vỏn vẹn 53 mộ có tên. Nghĩa trang Độc Lập có 2.432 phần mộ thì cũng chỉ có 229 ngôi mộ xác định được danh tính, và xót xa hơn cả là Nghĩa trang Him Lam với 896 phần mộ hoàn toàn là liệt sĩ khuyết danh. Nỗi đau ấy hiện hữu trong từng gia đình Việt Nam, như gia đình Đại tá Trần Đức Sinh có bác ruột là liệt sĩ Trần Hữu Ngung hy sinh tại Mường Thanh năm 1954. Cho đến nay, liệt sĩ vẫn nằm im lìm dưới một nấm mộ khuyết danh nào đó trong nghĩa trang. Mỗi lần đến viếng các ngôi mộ còn khuyết danh, người cháu chỉ biết lặng lẽ đi về khu tưởng niệm để dùng khăn lau từng nét chữ khắc tên người bác của mình.
Khát vọng tự do và ý chí cách mạng sắt đá ấy tiếp tục bùng cháy trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thông qua những câu chuyện đầy bản lĩnh của thế hệ trẻ miền Nam. Người thanh niên Nguyễn Hữu Thái, khi ấy là Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn - Gia Định, bị chính quyền bắt giam vào nhà tù Chí Hòa vào năm 1964. Đêm đầu tiên trong tù, đối diện với những người cộng sản gầy gò, quần áo rách tươm hằn vết tra tấn nhưng ý chí ngút trời, ông Thái đã vô cùng kinh ngạc. Khi hỏi một người tù học tiếng Anh để làm gì, câu trả lời tỉnh queo: "Để sau này ra tù còn đi thẩm vấn tù binh Mỹ!" đã lay động sâu sắc trái tim người trí thức trẻ. Bước ra chiến khu Quảng Nam, chứng kiến những đoàn bộ đội miền Bắc mười bảy, mười tám tuổi vác súng cối hành quân chi viện cho miền Nam, ông Thái bồi hồi xúc động: "Mỗi con người ấy như một giọt máu, họ kết lại thành một dòng máu Việt đang chầm chậm chảy từ Bắc vào Nam... trái tim của Tổ quốc vẫn luôn đập những nhịp mạnh mẽ như thế". Ông quyết định dấn thân làm tình báo ngay trong lòng địch, tuồn vũ khí cho lực lượng biệt động Sài Gòn.
Cùng lúc đó, dưới lòng đất Sài Gòn tăm tối, người lính đặc công Phạm Duy Đô (biệt danh Đô "Gù") nhận nhiệm vụ đặc biệt: đột nhập nội thành, sử dụng hệ thống cống ngầm nguy hiểm suốt nửa tháng để vẽ sơ đồ chi tiết Dinh Độc Lập phục vụ cho Chiến dịch Hồ Chí Minh. Để rồi rạng sáng ngày 30/4/1975, chính ông Đô là người trực tiếp dẫn đường cho xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập. Trên chiếc xe tăng 390 huyền thoại, trước cánh cổng sào huyệt cuối cùng của địch, khi lái xe Nguyễn Văn Tập hỏi ý kiến, chỉ huy Vũ Đăng Toàn đã ra lệnh không hề chần chừ: "Tông thẳng vào bởi vì bây giờ thời cơ đã đến... bất chấp giá nào mình cũng phải xông lên". Pháo thủ số 1 Ngô Sỹ Nguyên nhớ lại cuộc hành quân thần tốc trước đó: "Xe này cháy xe kia vượt lên, đồng chí này hy sinh đồng chí khác thay", đi qua những trận địa ác liệt ở cầu Rạch Chiếc, cầu Sài Gòn nơi Trung đội trưởng Ngô Quang Nhỡ hy sinh ngay trước kính ngắm. Tiếng xích xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975 đã chấm dứt những năm tháng chia cắt, mang lại nền độc lập, thống nhất hoàn toàn cho Tổ quốc.
Sau ngày chiến thắng, những người lính anh dũng năm xưa lại lặng lẽ chọn cho mình lối sống giản dị giữa đời thường. Cụ Lại Văn Năm, cụ Nguyễn Văn Khả cùng hàng loạt cựu chiến binh Đại đoàn 316 đã tình nguyện đưa gia đình lên cánh đồng Mường Thanh đầy bom mìn năm xưa để xây dựng nông trường, bám trụ và sinh cơ lập nghiệp tại quê hương mới. Người lính đặc công Phạm Duy Đô trở về quê lúa Thái Bình hưởng chế độ thương binh, sống khiêm nhường, luôn nhường vinh dự cho đồng đội và cống hiến hết mình cho địa phương.
Từ những câu chuyện kể ấy, mỗi người trẻ hôm nay khi đứng trước những tượng đài, những nghĩa trang liệt sĩ khuyết danh đỏ ngầu bóng ban trắng, bỗng nhận ra trách nhiệm thiêng liêng đang đè nặng lên vai mình. Hòa bình ngày hôm nay được dệt bằng xương máu hòa vào bùn đất của hàng vạn thanh niên mười bảy, mười tám tuổi ngày trước. Như lời nhắn nhủ gan ruột của cựu chiến binh Phạm Bá Miều ở tuổi 89: "Hãy phát huy tinh thần chiến thắng... dám nghĩ, dám làm, năng động, sáng tạo, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc", thế hệ trẻ hôm nay không được phép quên đi quá khứ hào hùng. Trách nhiệm của chúng ta là học tập, rèn luyện, sống xứng đáng với những giọt máu đã đổ xuống, tiếp tục viết tiếp câu chuyện hòa bình và đưa đất nước vươn lên tầm cao mới trong kỷ nguyên hội nhập.



