Hào khí Núi Bà ngân vọng giữa hang đá trên núi Minh Đạm
Hào khí Núi Bà ngân vọng giữa hang đá trên núi Minh Đạm
Tôi sinh ra và lớn lên ở vùng đất biên thùy Tây Ninh – nơi có ngọn núi Bà
Đen uy nghi giữa bốn bề nắng gió và những cánh rừng già từng che chở cho lịch sử.
Cứ ngỡ những danh thắng hào hùng ấy đã là một phần máu thịt, cho đến khi tôi bắt
đầu chuyến xe hành trình nghỉ dưỡng của một người lữ khách về với vùng biển Đất
Đỏ (Bà Rịa – Vũng Tàu).
Giữa cung đường ven biển lộng gió, tôi vô tình bị thu hút bởi một dãy núi
hùng vĩ, một bên tựa lưng vào rừng già rậm rạp, một bên nhìn thẳng ra sóng biển
Thùy Dương xanh ngắt. Cái tên "Minh Đạm" vang lên trầm mặc, lạ lẫm mà đầy uy
nghiêm, đã khiến một người con của xứ sở Núi Bà như tôi không thể không dừng
bước tìm hiểu về ý nghĩa cái tên đó. Đây không chỉ là một danh thắng, nơi đây dường
như đang kể lại một câu chuyện về một “Thời hoa lửa” đầy kiêu hùng của dân tộc.
Trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt nhận ra mình không chỉ đang đi du lịch, mà
đang bước vào một cuộc gặp gỡ tình cờ với lịch sử. Có cái gì đó rất đỗi quen thuộc,
rất đỗi "đồng điệu" giữa ngọn núi đang đứng trước mặt tôi và những di tích lịch sử
tại quê nhà. Một sợi dây liên kết vô hình từ nắng gió Tây Ninh đã dẫn dắt tôi tìm về
với những hang đá “Thời hoa lửa” của đất biển, để rồi nhận ra rằng: “Mỗi tấc đất
trên dải đất hình chữ S này đều đang mang trong mình những câu chuyện chưa kể
về một thời kiêu hùng”.
MINH ĐẠM
KHI DANH XƯNG ĐƯỢC TẠC BẰNG MÁU VÀ HOA
Khác với những ngọn núi thường mang tên theo hình dáng hay huyền thoại
dân gian, Minh Đạm là một bản hùng ca được viết bằng tên người. Tìm hiểu sâu
hơn, tôi mới ngỡ ngàng trước nguồn gốc của danh xưng này. Theo lịch sử Đảng bộ
huyện Long Điền, ghi rõ: Tại đây, vào ngày 17-11-1948, Bí thư Huyện ủy Long Điền
2
Bùi Công Minh và Phó Bí thư Huyện ủy Mạc Thanh Đạm trên đường đi công tác,
đã bị địch phục kích. Hai đồng chí anh dũng hy sinh tại chân núi này.
Để tưởng nhớ và tri ân những người anh hùng đã dâng hiến thanh xuân cho
nền độc lập, tổ chức Đảng và nhân dân địa phương đã ghép tên hai ông, để đặt cho
dãy núi Châu Long – Châu Viên xưa kia. Kể từ đó, núi mang tên người, và người trở
thành linh hồn của núi.
Đứng trước sự hùng vĩ của thiên nhiên, tôi chợt nhận ra: Hóa ra, lịch sử
không chỉ nằm trong những trang sách cũ, mà nó đang hiện diện ngay trong từng
vách đá, từng tên gọi mà chúng ta tình cờ bắt gặp trên đường đời. Mỗi bước chân
tôi đi hôm nay đều đang chạm vào một phần ký ức của những người đi trước - những
người đã hóa thân vào sông núi để giữ gìn màu xanh bình yên cho đất nước này.
HUYỀN THOẠI LÒNG ĐẤT
NHỮNG PHÁO ĐÀI THÉP THỬ THÁCH Ý CHÍ KIÊN CƯỜNG
Rời khỏi những cung đường ven biển lộng gió, tôi bắt đầu hành trình len lỏi
vào những lối mòn dẫn lên các hang đá. Nếu chỉ nhìn từ xa, Minh Đạm trông như
một bức tranh xanh mát bình yên, nhưng khi thực sự bước vào lòng núi, tôi mới thấu
hiểu tại sao nơi đây được mệnh danh là “căn cứ địa bất khả xâm phạm”. Dưới cái
nắng gắt của miền Đông, không khí bắt đầu thay đổi khi tôi chạm tay vào những
khối đá hoa cương khổng lồ. Nếu không có những tấm bảng chỉ dẫn, có lẽ ít ai tin
được rằng những khe đá hẹp đến mức chỉ đủ một người lách mình qua lại từng là
nơi đóng quân của cả một bộ máy chỉ huy cách mạng.
Theo tư liệu lịch sử của khu di tích, Minh Đạm sở hữu hệ thống hơn 300 hang
động lớn nhỏ nằm rải rác. Trong kháng chiến chống Mỹ, căn cứ Minh Đạm đã phát
triển rộng lớn với nhiều đơn vị quân, dân, đảng hoạt động. Quân địch đã nhiều lần
tổ chức các trận càn lớn lên đây, nhằm “xóa sổ” đầu mối chỉ huy cách mạng trong
vùng nhưng đều bị đánh bại. Những trận chiến khốc liệt đã diễn ra trong những năm
1966, 1968 và giai đoạn ác liệt nhất là các mùa khô năm 1969 - 1972. Tổng cộng
2.642 Anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến tại căn cứ Minh Đạm
để góp phần cho đất nước có niềm vui hòa bình, thống nhất, độc lập và phát triển
như ngày nay. Năm 1993, căn cứ Minh Đạm được Bộ Văn hóa - Thông tin (tiền thân
của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia.
Bước chân vào hang Huyện ủy hay hang Quân y, cái cảm giác ngột ngạt và
ẩm thấp bao trùm lấy tôi. Theo nguồn tin từ các bản ghi chép của Ban quản lý di
tích, trong những năm tháng kháng chiến, các chiến sĩ phải sống trong điều kiện
khắc nghiệt đến cùng cực:
+ Địa thế hiểm trở: Hang được tạo nên từ những tảng đá chồng lên nhau,
lòng hang tối tăm, hẹp và sâu. Nhiều đoạn, tôi phải cúi rập người hoặc nghiêng mình
mới có thể di chuyển.
+ Sự thiếu thốn: Trong hang không có ánh sáng mặt trời, nguồn nước khan
hiếm. Những ngày bị bao vây, chiến sĩ ta phải hứng từng giọt nước rỉ ra từ kẽ đá để
duy trì sự sống.
+ Bom đạn và bệnh tật: Theo tư liệu truyền thống địa phương, nơi đây từng
hứng chịu hàng nghìn tấn bom đạn đổ xuống nhằm san phẳng “Túi đá” này. Trong
không gian chật hẹp ấy, khói bom, muỗi mòng và bệnh sốt rét rừng là những kẻ thù
vô hình luôn chực chờ.
MINH ĐẠM – NƠI KÝ ỨC HỒI SINH
VÀ SỢI DÂY LINH THIÊNG NỐ NHỊP QUÊ HƯƠNG.
Đứng trước sự tĩnh lặng của núi rừng Minh Đạm hôm nay, trong lòng một
người trẻ sinh năm 1996 như tôi trào dâng những cảm xúc khó tả. Chúng tôi được
sinh ra khi đất nước đã đi qua những ngày khói lửa từ lâu, khi hòa bình đã trở thành
một điều hiển nhiên như hơi thở mỗi ngày. Nhưng khi chạm tay vào vách đá lạnh
lẽo của hang Huyện ủy, tôi mới bừng tỉnh: Hòa bình chưa bao giờ là hiển nhiên.
Cùng ở độ tuổi đôi mươi, khi chúng tôi đang mải mê với những dự định sự
nghiệp, với những chuyến du lịch khám phá, thì hơn 80 năm trước, những người tiền
bối đã chọn lấy hang đá làm nhà, chọn tiếng bom làm nhịp sống. Sự hy sinh của họ
không phải là những con số khô khan trong sách giáo khoa, mà là bằng chứng sống
động nhất về một lý tưởng cao đẹp: Sống là để dâng hiến.
Bài học lớn nhất mà tôi nhận ra từ Minh Đạm chính là lòng biết ơn. Biết ơn
vì mình được sinh ra trong một thời đại mà “lửa” không còn là bom đạn, mà là nhiệt
huyết của tuổi trẻ để xây dựng tương lai.
Chuyến ghé thăm Minh Đạm lần này, với tôi, không chỉ đơn thuần là một dấu
mốc trên bản đồ du lịch. Nó đã trở thành một “điểm dừng chân của tâm hồn”, nơi tôi
được sạc đầy lòng tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm của một người đoàn viên.
Dẫu mai này tôi trở về với nhịp sống hối hả của quê hương Tây Ninh, mang theo
hơi thở của nắng gió biên thùy và sự hùng vĩ của núi Bà Đen, thì dư âm về ngọn núi
Minh Đạm vẫn sẽ luôn thường trực. Tôi chợt nhận ra một sự đồng điệu kỳ diệu: Nếu
Minh Đạm là “lá phổi” che chở cho cách mạng miền biển Bà Rịa, thì Tây Ninh quê tôi
cũng có căn cứ Trung ương Cục Miền Nam – Thủ đô kháng chiến giữa đại ngàn lịch
Con đường gập ghềnh lên núi Minh Đạm Một hang đá ở núi Minh Đạm
5
sử. Tôi nhận ra rằng, dù là Đất Đỏ hay Tây Ninh, dù là Minh Đạm hay căn cứ Trung
ương Cục Miền Nam, thì dòng máu chảy trong huyết quản chúng ta vẫn là một.
Minh Đạm đã dạy tôi yêu thêm mảnh đất mình đang sống, quý trọng hơn từng
tấc đất quê hương. Bởi tôi hiểu rằng, mỗi ngọn núi trên dải đất hình chữ S này đều
có một câu chuyện riêng, một “Thời hoa lửa” riêng để thế hệ trẻ chúng tôi hôm nay
tự hào tiếp bước.



