Hào khí Tường Hạ – Cựu chiến binh Hà Văn Khạt và bản hùng ca vượt dải Trường Sơn
Nhân chứng lịch sử: Cựu chiến binh Hà Văn Khạt (1944 – 2022) Địa bàn: Xã Tường Hạ, tỉnh Sơn La "Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng." "Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba." Tình yêu quê hương, đất nước từ bao đời nay đã trở thành mạch nguồn tâm linh bền chặt, kết tinh thành sức mạnh diệu kỳ giúp dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn dông bão lịch sử. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trường kỳ và vĩ đại, mảnh đất Tường Hạ (Phù Yên, Sơn La) kiên cường bên dải đại ngàn đã tiễn đưa bao lớp người con ưu tú lên đường ra tiền tuyến. Hôm nay, lật mở lại những trang sử vàng "Thời Hoa Lửa", tuổi trẻ chúng tôi không khỏi bồi hồi, xúc động khi nhắc đến cuộc đời và sự cống hiến trọn vẹn của cựu chiến binh Hà Văn Khạt (1944 – 2022) – người chiến sĩ đã dâng trọn tuổi thanh xuân đẹp nhất cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
CHƯƠNG I: TIẾNG GỌI CỦA SÔNG NÚI VÀ TUỔI HAI MƯƠI HAI HĂNG HÁI (1966)
Tục ngữ Việt Nam có câu: "Lẻn đá thì nát chân, lẻn dân thì giữ nước" hay "Nước mất thì nhà tan". Nhận thức sâu sắc rằng độc lập của dân tộc gắn liền với sự sống còn của bản làng, năm 1966 – khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt nhất – người thanh niên Mường Hà Văn Khạt vừa tròn 22 tuổi đã nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.
Lúc bấy giờ, khi giặc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc và tăng cường bắn phá các tuyến đường huyết mạch, chàng thanh niên Hà Văn Khạt đã gác lại những dự định riêng tư, tạm biệt nếp nhà sàn thân thương, mảnh nương, con suối quê hương Tường Hạ để lên đường nhập ngũ. Hành trang mang theo của người chiến sĩ trẻ nơi núi rừng Sơn La khi ấy chỉ đơn sơ chiếc ba lô có toad, tấm áo trấn thủ, nhưng đong đầy một trái tim nồng nã lòng yêu nước và niềm tin mãnh liệt vào ngày Bắc - Nam sông núi gập một nhà.
CHƯƠNG II: "XẺ DỌC TRƯỜNG SƠN ĐI CỨU NƯỚC" – MỘT THỜI HOA LỬA (1966 – 1972)
Giai đoạn 1966 – 1972 là chặng đường 6 năm rực lửa, thử thách lòng gan dạ và ý chí quật cường của bác Hà Văn Khạt trên các chiến trường gian khổ.
1. Nơi gian khổ đúc kết nên tinh thần thép
Chiến trường Trường Sơn ngày ấy đúng như câu thơ của Tố Hữu:
"Trường Sơn, xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai."
Nơi tuyến đầu chống Mỹ, ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc. Bác Hà Văn Khạt cùng đồng đội phải đối mặt với vô vàn hiểm nguy: từ những trận mưa bom B-52 cày xới nát từng cánh rừng, những đợt rải chất độc hóa học làm xơ xác cây ngàn, đến những trận sốt rét rừng rét run người giữa đêm sâu khốc liệt. Bữa ăn nhiều khi chỉ có củ sắn lùi, bát canh rau rừng thiếu muối, nhưng trong muôn vàn gian khổ, tiếng hát của người chiến sĩ vẫn vang xa, át tiếng bom rơi.
2. Những chiến công thầm lặng vì mạch máu giao thông
Trong suốt những năm tháng từ 1966 đến 1972, bác Hà Văn Khạt đã trực tiếp tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, kiên cường giữ vững tuyến đường giao thông huyết mạch, vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược vào sâu cho chiến trường miền Nam. Bất chấp đêm tối hay ngày đạn bom dội xuống, hễ có lệnh là bác lại cùng đồng đội xông pha ra mặt trận. Có những lúc bom đạn làm sạt lở núi đồi, bác vẫn kiên cường bám trụ mở đường cho xe qua, bảo đảm dòng chảy tiếp viện không bao giờ ngừng nghỉ. Tình đồng chí, đồng đội "sẻ chia bát cơm, sẻ chia chăn ấm" giữa rừng sâu đã trở thành ký ức thiêng liêng, là điểm tựa tinh thần nâng bước người chiến sĩ vượt qua mọi thử thách.
CHƯƠNG III: TRỞ VỀ GIỮA ĐỜI THƯỜNG VÀ DI TRUYỀN BẢN HÙNG CA (1972 – 2022)
Năm 1972, sau 6 năm cống hiến trọn vẹn tuổi trẻ nơi tuyến đầu khói lửa, bác Hà Văn Khạt hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và trở về địa phương. Mang trên mình những vết thương thời chiến cùng những ảnh hưởng của cơn sốt rét rừng, nhưng phẩm chất cao quý của "Bộ đội Cụ Hồ" trong bác vẫn luôn sáng ngời.
Trở về với cuộc sống bình dị tại bản Suối Tre, xã Tường Hạ, bác tích cực lao động sản xuất, cùng gia đình phát triển kinh tế, là tấm gương sáng trong chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bác luôn sẵn lòng giúp đỡ bà con chòm xóm, ân cần rèn dạy con cháu biết trân trọng giá trị của độc lập, tự do và gìn giữ truyền thống gia đình, quê hương.
Năm 2022, cựu chiến binh Hà Văn Khạt đã thanh thản trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 78 tuổi, để lại niềm thương tiếc vô hạn cho gia đình, đồng đội và nhân dân xã Tường Hạ. Dù bác đã đi xa, nhưng cuộc đời, sự nghiệp và tinh thần xả thân vì nước của bác vẫn sống mãi trong lòng người dân quê hương.
LỜI KẾT: TỰ HÀO VÀ KHÁT VỌNG CỦA THẾ HỆ TRẺ
Dân gian ta có câu: "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn". Đứng trước ký ức về một thời Hoa Lửa oanh liệt của bác Hà Văn Khạt, tuổi trẻ xã Tường Hạ hôm nay càng cảm nhận sâu sắc giá trị thiêng liêng của hòa bình, độc lập đang được hưởng ngày hôm nay.
Thế hệ cha anh như bác Hà Văn Khạt đã dùng máu xương và tuổi trẻ để viết nên trang sử vàng chói lọi. Giờ đây, nhiệm vụ của thế hệ trẻ chúng tôi là bảo vệ, giữ gìn và tiếp nối trang sử ấy bằng tất cả trí tuệ, nhiệt huyết và khát vọng của tuổi trẻ.
Đoàn viên, thanh niên xã Tường Hạ nguyện khắc ghi:
1. Ghi nhớ và lan tỏa: Thường xuyên sưu tầm, lưu giữ và tuyên truyền rộng rãi những câu chuyện, hiện vật, kỷ niệm thời chiến của các anh hùng, cựu chiến binh như bác Hà Văn Khạt để giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ mai sau.
2. Nỗ lực rèn luyện: Không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức, nâng cao trình độ chuyên môn, sẵn sàng xung kích, đi đầu trong các phong trào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
3. Xây dựng quê hương: Quyết tâm chung tay xây dựng xã Tường Hạ ngày càng giàu đẹp, văn minh, xứng đáng với sự hy sinh vô giá của các thế hệ cha anh đi trước.
Người viết bài
Cầm Văn Hiện



