"Hào trưởng Đường Lâm" thành danh tướng
"Hào trưởng Đường Lâm" thành danh tướng Làng cổ Đường Lâm (thuộc thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội) hiện vẫn còn một tấm bia đá hiếm quý vì có niên đại rất cổ...

"Hào trưởng Đường Lâm" thành danh tướng
Làng cổ Đường Lâm (thuộc thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội) hiện vẫn còn một tấm bia đá hiếm quý vì có niên đại rất cổ...
Làng cổ Đường Lâm (thuộc thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội) hiện vẫn còn một tấm bia đá hiếm quý vì có niên đại rất cổ (là: 1390), phù hợp với nội dung của một bộ sách quý, cũng rất cổ (niên đại: 1312) là "Việt điện u linh", nói về một vị "hào trưởng" (thủ lĩnh) của làng, ở và từ thế kỷ 18 sau Công nguyên.
Đó là Phùng Hưng, con trai kế nghiệp của Hào trưởng Phùng Hạp Khanh, anh trai của Phùng Hải-"sức khỏe có thể vác tảng đá nặng nghìn cân", và là bạn của Đỗ Anh Hàn-"nổi tiếng mưu lược". Hai người này đều vào được sách cổ "Việt điện u linh" và cả cổ thư Trung Hoa (là sách "Tân Đường thư") với những lời lẽ ngợi ca như vậy, và đều được chép là đồng hương Đường Lâm với Phùng Hưng.
Riêng về Phùng Hưng, cả văn bia và sách cổ đều ghi chép giống nhau, là "sức vóc hùng dũng, có thể bắt hổ, vật trâu". Từ câu cổ văn này, nhiều tác phẩm văn chương, phim ảnh và mỹ thuật hiện đại đã tạo dựng nên những câu chuyện, cảnh tượng ly kỳ, hoành tráng, hấp dẫn, về tài năng và công tích diệt trừ cọp dữ, cụ thể, sinh động, ở ngay trên quê hương Đường Lâm, trước khi từ miền đất đai bản bộ này, họ Phùng phát động một cuộc khởi nghĩa oanh liệt chống ngoại bang đô hộ.
Ngọn cờ nghĩa do Phùng Hưng dựng cao trên miền đồi gò Đường Lâm, quy tụ nghĩa sĩ khắp thiên hạ, đi đánh hạ tòa Phủ thành. "Đô quân" là danh hiệu của vị Hào trưởng Đường Lâm, giờ thì đã thành chủ tướng nghĩa quân. "Đô bảo" là danh hiệu của người em trai Phùng Hải. Còn Đỗ Anh Hàn thì vào sử cũ với câu "là người được Phùng Hưng coi như bậc thầy trong quân". Sách "Việt điện u linh" kịp thời bổ sung câu nói về một dũng tướng mới đến tụ nghĩa là: "Bồ Phá Cầu, sức có thể xô núi, xách đỉnh, dũng lực tuyệt vời". Tư liệu về cuộc dấy nghĩa của vị Hào trưởng Đường Lâm, đến đây có thêm những di tích kiến trúc tâm linh để nói về động thái tỏa lan mạnh mẽ, hùng hồn, của phong trào đấu tranh do vị chủ tướng họ Phùng đứng đầu:
- Một ngôi đền thờ Phùng Hưng được dựng ở làng Triều Khúc (huyện Thanh Trì, TP Hà Nội) để ghi lại dấu tích đóng đồn, trẩy quân của chủ tướng nghĩa quân Đường Lâm, xưa đã hành binh qua đây, đi đánh Cao Chính Bình ở "An Nam La Thành".
- Ngôi đình Hòa Mục thuộc huyện Từ Liêm, vừa mới thành quận cùng tên thờ ba vị nữ tướng là cháu gái của Phùng Hưng, có công tham gia khởi nghĩa, đánh giặc.
- Đặc biệt ngôi đình Quảng Bá (thuộc quận Tây Hồ) với tấm bia (niên đại giữa thế kỷ 19) chứa đựng nhiều thông tin chưa được biết: Nào là còn có cả một em trai nữa của Phùng Hưng-là Phùng Dĩnh-cũng theo anh đi đánh giặc, cùng với các em của Đỗ Anh Hàn là Đỗ Anh Luân và Đỗ Anh Nho, rồi nào là "Sa Bà tướng quân" A Gia, Lăng Bình, Đỗ Nhưng, Triệu Cử, Hà Toại, Lục Kiều, Thành Yến... nữa. Điều quan trọng hơn cả, là lời mách bảo trong bài văn bia đình Quảng Bá này, rằng: Phùng Hưng đã cho đóng đại bản doanh ở đây, để chỉ huy đánh phá "An Nam La Thành" của "An Nam đô hộ" Cao Chính Bình!
Như vậy là, sau những năm tháng ở đời Đường Đại Lịch (766-779) nổi dậy và cầm cự: "Đánh nhau với Chính Bình, lâu ngày không thắng" (như lời sách "Đại Việt sử ký toàn thư" cho biết) và-cũng thế-"chức quan đô hộ là Cao Chính Bình đem quân dưới trướng đến đánh họ Phùng mà không nổi"-lời sách "Việt Điện u linh", với nghệ thuật phát triển thế lực và thế trận trong chiến tranh lâu dài, Phùng Hưng đã trở thành danh tướng khi xoay chuyển được tình hình: Từ chỗ nổi dậy và cầm cự với giặc ở trên miền đất đồi rừng bản bộ Đường Lâm đã phát triển sang thế tiến công, đưa lực lượng xuống trung tâm đồng bằng châu thổ, đánh thẳng vào sào huyệt đầu não của kẻ thù.
Trận vây đánh tòa Phủ thành của Cao Chính Bình năm 791-sau hàng chục năm cầm cự với giặc-là một trận huyết chiến: "Thây chết thành đống, máu chảy thành suối, khiến sông Lô sông Nhị (tức sông Hồng) đỏ ngầu cả" (Văn bia đình Quảng Bá). Trước tài chỉ huy tiến đánh công thành của chủ tướng nghĩa quân Phùng Hưng, bọn quan quân nhà Đường đã hết sức cố gắng chống cự mà không nổi. Quá đỗi lo sợ, chủ tướng Cao Chính Bình của giặc đã phát bệnh mà chết. Sách "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" chép gọn: "Chính Bình vì lo sợ mà chết". Nhưng sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép kỹ hơn: "Chính Bình lo sợ, phẫn uất, phát nhọt ở lưng ("hậu bối") mà chết"!
Hào trưởng Đường Lâm Phùng Hưng dẫn đầu nghĩa quân tiến vào giải phóng "An Nam La Thành", làm chủ cả đất nước. Được cả nước mến mộ, vị danh tướng của cuộc chiến mấy chục năm chống lại và đánh bại thế lực đô hộ nhà Đường ở nửa cuối thế kỷ thứ 8 được suy tôn là "Bố Cái Đại Vương".
Về danh hiệu này, vì hiểu nghĩa "Bố-Cái" là "Cha-Mẹ", sách "Đại Việt sử ký toàn thư" đã có câu viết-để giải thích hai chữ này-là: "Con (Phùng Hưng, sau khi cha mất) tôn xưng (cha) là Bố Cái Đại Vương. Tục lệ gọi cha là bố, mẹ là Cái, cho nên lấy đấy làm hiệu". Tuy nhiên, trong công trình "Việt giám thông khảo tổng luận", sử thần Lê Tung ở thế kỷ 16 lại gọi Phùng Hưng-trong nguyên văn-là "Phùng Bố Cái". Cấu trúc của cụm từ này cho thấy: Ở đây, nghĩa của "Bố" không phải là "Cha", mà là: "Vua" (Ngữ âm Việt cổ, vần "V" thông với vần "B". Do đó, "Vua" = "Bua" = "Bố"). Còn "Cái", không phải là "Mẹ", mà là: "Lớn" (như trong các trường hợp: "Trống cái" = "Trống lớn", "Đường cái" = "Đường to"). Do vậy, "Bố Cái" ở đây có nghĩa là "Vua lớn". Hoàn toàn trùng nghĩa với từ (chữ) Hán-Việt: "Đại Vương".
Điều này, vì thế, được ghi vào sách "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" thành câu: "Dân chúng (chứ không phải là con Phùng Hưng) tôn (Phùng) Hưng làm Bố cái Đại Vương". Kèm với ghi chú: Vương thường hiển linh, dân cho là thần, mới làm đền thờ ở phía tây Phủ đô hộ, tuế thời cúng tế".


