HẬU PHƯƠNG LỚN MIỀN BẮC CHI VIỆN TIỀN TUYẾN: KỲ TÍCH "XE THỒ" TRÊN CUNG ĐƯỜNG LỬA TRƯỜNG SƠN
Ký ức phi thường của người chiến sĩ dân công hỏa tuyến tỉnh Thanh Hóa trong chiến dịch chi viện chiến lược. Với chiếc xe thồ cải tiến thô sơ, ông đã lập kỷ lục vận chuyển hàng trăm kilôgam lương thực, vũ khí băng qua các đèo cao, vực sâu hiểm trở dưới bom đạn của địch.
Trong cuộc trường chinh giành độc lập dân tộc, chiến thắng không chỉ được quyết định bởi hỏa lực trên chiến trường, mà còn được quyết định bởi ý chí quyết tâm của cả một hậu phương lớn. Để đảm bảo nguồn lực cho các chiến dịch lớn tại miền Nam, khi hệ thống cơ giới chưa thể đáp ứng đầy đủ do mạng lưới đường sá bị đánh phá ác liệt, một lực lượng hậu cần độc nhất vô nhị đã ra đời: Dân công hỏa tuyến với binh chủng "xe thồ". Hàng vạn người nông dân áo vải từ các làng quê miền Bắc đã hăng hái lên đường, mang theo những chiếc xe đạp thô sơ được cải tiến để tải lương, tải đạn ra tiền tuyến. Ông Trần Văn Lực, người con của đất lửa Thanh Hóa, chính là một chiến sĩ kiên cường trong đội quân thầm lặng ấy.
Bà Lực nhớ lại, khi phong trào "Ba sẵn sàng" và "Tất cả cho tiền tuyến" phát động, ông đã dỡ bỏ cả cánh cửa nhà, dùng chiếc xe đạp hiệu Thống Nhất duy nhất của gia đình để cải tiến thành xe thồ hỏa tuyến. Để chiếc xe có thể thồ được khối lượng hàng gấp nhiều lần trọng lượng cơ thể, ông đã gia cố lại khung xe bằng gỗ gai chắc chắn, hàn thêm tay ngai để đẩy, bọc lại xăm lốp bằng các lớp vải bố cũ. Những chiếc xe thồ thô sơ ấy, qua bàn tay sáng tạo của người nông dân Việt Nam, đã sẵn sàng bước vào hành trình vượt hàng trăm cây số đèo dốc Trường Sơn.
Hành trình vận chuyển hàng hóa của dân công hỏa tuyến là một chuỗi những thử thách tột cùng về sức chịu đựng của con người. Cung đường hành quân phải băng qua những con đèo cao ngất trời như đèo Pha Đin, đèo Lũng Lô, nơi một bên là vách đá dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm. Mặt đường bị bom cày xới nát bét, bùn lầy ngập đến đầu gối vào mùa mưa, bụi mù mịt vào mùa khô. Máy bay địch lượn lờ trên đầu, sẵn sàng trút bom xuống bất cứ đội hình di chuyển nào.
Ông Trần Văn Lực kể, mỗi chuyến đi, chiếc xe thồ của ông chất đầy từ 200 đến hơn 300 kilôgam gạo, muối hoặc thùng đạn. Người chiến sĩ dân công phải dùng toàn bộ sức lực của cơ bắp, hai tay giữ chặt tay ngai, vai ghì vào dây đai, chân rướn từng bước trên dốc cao thẳng đứng. Có những đoạn dốc trơn trượt, xe có nguy cơ lao xuống vực, ông và các đồng đội phải kết thành bè, người đẩy phía sau, người kéo phía trước, nhích từng phân một trong tiếng bom nổ rền vang phía xa.
Bằng một ý chí sắt đá, coi nhiệm vụ chi viện là mệnh lệnh từ trái tim, ông Lực đã lập kỷ lục thồ hàng liên tục nhiều chuyến với khối lượng vượt mức quy định, đảm bảo nguồn lương thực, đạn dược luôn thông suốt, không một phút nào bị đứt gãy, kịp thời tiếp sức cho bộ đội chủ lực mở các trận đánh quyết định.
Sự xuất hiện của hàng vạn chiếc xe thồ trên đường Trường Sơn đã làm đảo lộn mọi tính toán quân sự của các tướng lĩnh phương Tây. Họ không thể hiểu nổi vì sao một dân tộc với những phương tiện thô sơ lại có thể vận chuyển khối lượng hậu cần khổng lồ, vượt qua hệ thống ngăn chặn bằng công nghệ tối tân nhất để nuôi sống cả một mặt trận lớn. Kỳ tích ấy được dệt nên chính từ lòng yêu nước và sự hy sinh thầm lặng của những con người như ông Trần Văn Lực.
Chiến tranh kết thúc, ông Lực trở về với mảnh ruộng, đồng quê thanh bình, tiếp tục cuộc sống của một người nông dân chất phác. Chiếc xe thồ năm xưa nay được lưu giữ trong bảo tàng lịch sử như một minh chứng vô giá cho một thời kỳ gian khổ nhưng oanh liệt. Câu chuyện cuộc đời ông mãi là một biểu tượng tự hào cho tinh thần đại đoàn kết dân tộc, một đóa hoa lửa thầm lặng nhưng rực rỡ dệt nên trang sử vàng của đất nước.


