Hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa nguồn sức mạnh chiến thắng của tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975
Trong chiến tranh hiện đại, “mạnh được, yếu thua” là lẽ thông thường. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam, đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là do Việt Nam có sức mạnh vượt trội đối phương.
Điều đó đã được thừa nhận, song lý giải về nguồn gốc của sức mạnh Việt Nam thì vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Dưới đây là một cách lý giải cụ thể: do có chế độ xã hội chủ nghĩa của hậu phương lớn miền Bắc.
1. Hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa, nguồn sức mạnh có ý nghĩa quyết định của Đại thắng mùa Xuân 1975
Đế quốc Mỹ có âm mưu can thiệp vào Việt Nam từ thời kỳ 1945 - 1946, khi ủng hộ quân Tưởng và bọn phản động (Việt Quốc, Việt Cách) kéo vào hòng lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ, lập chính quyền tay sai. Song mưu đồ đó đã bị thất bại. Không từ bỏ mưu đồ đã định, từ năm 1950, Mỹ công khai giúp Pháp duy trì và đẩy mạnh cuộc chiến tranh Đông Dương. Từ tháng 7 năm 1954, khi Pháp thất bại, Mỹ đã ráo riết tìm cách biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của họ.
Trên thực tế, đế quốc Mỹ đã dùng mọi lực lượng và thủ đoạn để thực hiện ý đồ đó, với: Thời gian chiến tranh: 222 tháng (Chiến tranh thế giới thứ hai: 42 tháng); Chi phí chiến tranh: 676 tỷ USD (Chiến tranh thế giới thứ hai: 341 tỷ USD), xí nghiệp phục vụ: 122 ngàn; số lượt lính tham chiến: 6.600 ngàn lượt.
Cùng với quân số và vật chất to lớn đó, Mỹ còn huy động tối đa kinh nghiệm, năng lực của những tướng lĩnh, nhà ngoại giao giỏi nhất và cả bộ máy tuyên truyền khổng lồ để lãnh đạo, chỉ huy cuộc chiến tranh và động viên chính trị tinh thần quân đội, làm sai lệch dư luận trong nước và quốc tế có lợi cho họ… Những số liệu đó chứng minh đế quốc Mỹ đã dốc hết sức mạnh có thể huy động được cho cuộc chiến tranh để giành chiến thắng, làm cho chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh lớn nhất, kéo dài nhất, tốn kém nhất của đế quốc Mỹ.
Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ huy thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, quân và dân Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ quyết đánh và quyết thắng quân xâm lược và bọn tay sai. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam là vô cùng quyết liệt, một mất một còn.
Miền Bắc đã vững vàng đương đầu và đánh thắng 2 cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo vệ được địa bàn và “chia lửa” với tiền tuyến miền Nam. Cả hai lần chống chiến tranh phá hoại, miền Bắc đã bắn rơi 4.181 máy bay, có 68 B.52, 13 F.111, bắn cháy, chìm 271 tàu chiến. Trong đó dân quân tự vệ bắn rơi 357 chiếc máy bay, lão dân quân bắn rơi 6 chiếc, nữ dân quân bắn rơi 30 chiếc. Riêng trong cuộc chiến đấu năm 1972, nhất là trận “Điện Biên Phủ trên không” 12 ngày đêm cuối năm 1972, miền Bắc đã bắn rơi nhiều loại máy bay hiện đại của Mỹ, trong đó có 62 B.52, 10 F.111, bắn cháy, chìm 128 tàu chiến.
Trong xây dựng tiềm lực hậu phương, chi viện tiền tuyến, dù rất yêu chuộng hòa bình, song bằng kinh nghiệm xương máu của mình, những người lãnh đạo và quân dân Việt Nam đã sớm ý thức được rằng đối với một kẻ thù như đế quốc Mỹ, bạo lực cách mạng, sức mạnh tổng hợp, trong đó có sức mạnh quân sự là nhân tố hết sức quan trọng để bảo đảm cho thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến. Trên thực tế, Việt Nam đã nỗ lực cao độ trong xây dựng và phát huy sức mạnh của hậu phương xã hội chủ nghĩa trong chiến tranh. Hậu phương miền Bắc đã thực sự là nguồn sức mạnh to lớn đối với tiền tuyến miền Nam nói chung, trong thời điểm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nói riêng, là cơ sở sức mạnh của quân đội Việt Nam cả về chính trị, tinh thần, vũ khí trang bị, bảo đảm lương thực thực phẩm, địa bàn đứng chân…
Về chính trị, tinh thần, từ tháng 7 năm 1954, Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh đã có chủ trương thanh thủ hòa bình, tập kết lực lượng từ miền Nam ra miền Bắc, củng cố và xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa của cách mạng cả nước, làm hậu thuẫn cho đấu tranh thống nhất nước nhà. Thời kỳ 1955 - 1957, Việt Nam tập trung hoàn thành các nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh. Từ năm 1958, Việt Nam chủ trương tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa để đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, coi chế độ xã hội chủ nghĩa là nhân tố sức mạnh tinh thần, nguồn cung cấp nhân, tài, vật lực to lớn cho cuộc chiến tranh cách mạng nói chung, cho quân đội nói riêng.
Cơ quan lãnh đạo tối cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam là Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Chính phủ ở miền Bắc đã thực sự là bộ tham mưu tài giỏi của cả nước. Những chủ trương, quyết định sáng suốt, đúng đắn của bộ thống soái là một nhân tố bảo đảm cho tiền tuyến chiến thắng đối phương. Tháng 9 năm 1960, Đại hội III của Đảng đã hoàn chỉnh đường lối cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, xác định tuy cùng thực hiện một mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, song cách mạng miền Bắc và cách mạng miền Nam có vai trò, vị trí riêng, trong đó cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam, với việc thống nhất Tổ quốc nên phải ra sức xây dựng và bảo vệ miền Bắc, làm cho miền Bắc trở thành căn cứ địa của cả nước, hậu phương cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam.
Theo quan điểm đó, trong giai đoạn 1954 - 1965, miền Bắc đã tăng cường công tác xây dựng Đảng, hoàn thiện bộ máy chính quyền các cấp, ban hành Hiến pháp xã hội chủ nghĩa, củng cố Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Các đoàn thể quần chúng đã có nhiều phong trào thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội, tăng cường quốc phòng, như phong trào “Gió Đại Phong, sóng Duyên Hải, cờ Ba nhất”, “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”. Trong thời kỳ 1965 - 1975, dù chiến tranh ác liệt, cơ sở vật chất bị tàn phá, nhưng với khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, với khí thế “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, miền Bắc đã đề cao hơn bao giờ hết tinh thần hướng ra tiền tuyến, động viên đồng bào và chiến sĩ cả nước, cổ vũ tiền tuyến lớn miền Nam vượt qua mọi hy sinh, đánh lớn, thắng to trên chiến trường, nhất là trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975...
Về kinh tế, kỹ thuật, với tinh thần khẩn trương, đến năm 1957, miền Bắc hoàn thành kế hoạch khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh. Đến năm 1960, sau ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958 - 1960), kinh tế miền Bắc có bước phát triển mới với sự xuất hiện nhiều khu công nghiệp lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Thái Nguyên, Việt Trì. Từ năm 1961 đến năm 1965, miền Bắc đã ra sức thi đua thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với hàng loạt phong trào thi đua lao động sản xuất sôi nổi. Đến đầu năm 1965, do Mỹ gây chiến tranh phá hoại, kế hoạch 5 năm phải tạm dừng, song cơ bản miền Bắc đã đạt được các mục tiêu đề ra trong nông, công nghiệp, giao thông vận tải, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao tiềm lực quốc phòng.
Từ năm 1965 đến năm 1972, miền Bắc thực hiện nhiệm vụ vừa sản xuất, xây dựng vừa chiến đấu bảo vệ, đồng thời vừa làm tốt nhiệm vụ hậu phương với miền Nam và các chiến trường quốc tế Lào, Campuchia. Tuy bị thiệt hại nhiều, nhất là công nghiệp, giao thông vận tải, song nông nghiệp, công nghiệp địa phương miền Bắc tiếp tục phát triển. Từ năm 1973, sau khi có Hiệp định Pari, miền Bắc đã tập trung khôi phục kinh tế, xây dựng tiềm lực hậu phương đạt nhiều kết quả lớn, đến năm 1975 đã đạt mức tăng trưởng của năm 1965 và có mặt phát triển hơn, quan hệ đối ngoại được mở rộng. Điều đáng lưu ý là với kinh nghiệm tích lũy được qua thực tiễn chiến đấu lâu dài và qua nghiên cứu, đào tạo từ nhiều nguồn trong và ngoài nước, bằng sự huy động một số lượng lớn cán bộ, công nhân viên chuyên môn, sinh viên đại học lên đường ra trận, hậu phương miền Bắc đã bổ sung, nâng cao rõ rệt năng lực khoa học, kỹ thuật, trình độ chỉ huy tác chiến cũng như sự cải tiến vũ khí trang bị và cách sử dụng của quân đội, nhất là giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến.
Về văn hóa, xã hội, thời kỳ 1954 - 1964, miền Bắc đã đẩy mạnh phong trào xóa nạn mù chữ, xây dựng đời sống mới, phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, nâng cao trình độ học vấn cho mọi tầng lớp nhân dân. Các cơ sở vật chất về văn hóa, y tế, giáo dục được xây dựng, giao lưu văn hóa quốc tế được thúc đẩy. Tính chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, chính sách hậu phương quân đội đúng đắn đã bảo đảm cho miền Bắc ổn định trước sự đánh phá ác liệt của chiến tranh phá hoại, không xảy ra nạn đói, dịch bệnh, bạo loạn, đồng thời có tác dụng làm yên lòng và thôi thúc những người ra trận hăng hái chiến đấu, tạo niềm hứng khởi, tin tưởng vào tương lai tốt đẹp cho đồng bào, chiến sĩ miền Nam.
Về quân sự, ngay sau khi hòa bình lập lại, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch đã chủ trương tăng cường tiềm lực quốc phòng cho miền Bắc. Từ năm 1957, yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân, đưa quân đội một bước lên chính quy, hiện đại được chú trọng. Quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, chú trọng giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của các lực lượng vũ trang được đề cao. Tổng quân số thường trực được duy trì ở mức độ thích hợp: năm 1959 có 160.000 người, năm 1963 có 170.000 người (bằng 1% số dân), 16.000 công nhân viên quốc phòng, 21.000 công an vũ trang, 1,2 triệu quân dự bị, 1,4 triệu dân quân tự vệ. Đầu năm 1965 có 195.000 bộ đội thường trực, cuối 1965 lên 400.000 người. Trong 3 năm (từ năm 1973 đến 1975) đã tự sản xuất được 3.409 tấn vũ khí đạn dược, 1.863 tấn phụ tùng xe, máy và 26.074 tấn quân trang, quân dụng khác. Vũ khí trang bị được nâng cấp, nhiều quân binh chủng kỹ thuật được thành lập.
Thời kỳ 1965-1975, thế trận chiến tranh nhân dân được xây dựng vững chắc, có nhiều khu vực phòng thủ mạnh như Hà Nội, Khu IV. Đoàn 559 được tăng cường thành Bộ đội Trường Sơn với 2 sư đoàn ô tô, 3 sư đoàn công binh, 29 trung đoàn vận tải, 6.770 xe ô tô. Đường Trường Sơn dài 16.790 km (cả Đông và Tây). Có 1.712km đường ống xăng dầu với 101 trạm bơm (kể cả ở miền Bắc lên tới 55.000km).
Hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đã tổ chức tiếp nhận chu đáo, kịp thời một khối lượng lớn vũ khí, trang bị quân sự do các nước chi viện, chủ yếu qua đường sắt và đường thủy. Sự giúp đỡ to lớn và có hiệu quả của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhân dân tiến bộ trên thế giới góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh chiến thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
2. Nhận xét và kinh nghiệm
Nhận xét chung
Thứ nhất, hậu phương của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nói riêng là hậu phương của chiến tranh nhân dân, hậu phương trong lòng dân, hậu phương xã hội chủ nghĩa. Hậu phương đó tuy chưa phát triển cao về kinh tế, song về chính trị, tinh thần, văn hoá, xã hội thì ưu việt hơn hậu phương đối phương và luôn luôn hướng về tiền tuyến, ra sức chi viện sức người, sức của cho quân đội, cho tiền tuyến. Hậu phương lớn miền Bắc đã tạo nên, tiếp nhận nguồn viện trợ của quốc tế và huy động nguồn nhân tài, vật lực to lớn, kịp thời, có hiệu quả cho tiền tuyến miền Nam và các chiến trường nước bạn Lào và Campuchia.
Thứ hai, hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã được xây dựng và bảo vệ trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, bị địch đánh phá ác liệt, song đã đạt được những thành tựu to lớn, tạo được những tiềm lực quan trọng và đã làm tròn chức năng, vai trò của mình đối với tiền tuyến, cả về đất đứng chân, bàn đạp tiến công, cơ sở tổ chức lãnh đạo, nền tảng kinh tế, nơi cung cấp nhân tài, vật lực và động viên chính trị, tinh thần cho quân đội, cho tiền tuyến.
Thứ ba, thắng lợi của quân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đỉnh cao cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là kết quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng, quyết định thường xuyên là có hậu phương được xây dựng và bảo vệ vững chắc, hết sức chi viện sức người, sức của và động viên chính trị, tinh thần cho tiền tuyến. Sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đúng đắn, sáng tạo của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực phấn đấu sản xuất, xây dựng và chiến đấu anh dũng, hy sinh cao cả của nhân dân miền Bắc, chiến thắng của quân dân miền Nam là các nhân tố bảo đảm cho miền Bắc vượt qua mọi gian khổ, khó khăn, vươn lên đạt được những thành tựu to lớn trong xây dựng và bảo vệ hậu phương, chi viện tiền tuyến thời kỳ 1954 - 1975, nhất là trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến - mùa Xuân 1975.
Thứ tư, nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề mối quan hệ giữa hậu phương với tiền tuyến, hậu phương quân đội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 phải quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng về vấn đề hậu phương của chiến tranh nhân dân Việt Nam, về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, phải nắm vững lý luận chung của chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội đồng thời phải dựa chắc vào thực tiễn Việt Nam. Thấu hiểu sự lãnh đạo, chỉ đạo và các phong trào xây dựng, bảo vệ hậu phương, chi viện tiền tuyến của miền Bắc xã hội chủ nghĩa thời kỳ này sẽ giúp hiểu rõ thêm nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, của Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 và điều quan trọng hơn là có thể rút ra được những kinh nghiệm phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện tại.
Quá trình xây dựng và bảo vệ hậu phương, chi viện cho tiền tuyến có thể rút ra một số kinh nghiệm quý báu, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Một là, sức mạnh của hậu phương quyết định sức mạnh của quân đội, hậu phương là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh. Công thức chung về mối quan hệ giữa hậu phương với quân đội luôn luôn vẫn là: CUNG của hậu phương phải luôn bằng hoặc lớn hơn CẦU của quân đội, của tiền tuyến thì quân đội mới giành được chiến thắng trên chiến trường. Vì vậy, khi có chiến tranh hay lúc bình thường đều phải nhận thức đúng đắn quan điểm, công thức đó để ra sức xây dựng, bảo vệ tiềm lực mọi mặt của hậu phương, của đất nước, tạo thế và lực bảo đảm cho quân đội, về nguyên tắc chung, là có sức mạnh không quá thua kém, tiến tới bằng hoặc vượt trội đối phương. Không có thực lực (vật chất, nhân lực, kỹ thuật, trình độ lãnh đạo, chỉ huy, ý chí tinh thần, địa bàn…) thì quân đội không thể giành thắng lợi trên chiến trường, trong bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải và không phận của quốc gia.
Hai là, xây dựng, bảo vệ hậu phương, huy động sức mạnh hậu phương cho quân đội, cho chiến tranh phải toàn diện cả về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá, khoa học kỹ thuật... Phải quán triệt quan điểm dựa vào dân, dựa vào sức mình là chính, đồng thời ra sức tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Hậu phương của ta phải là hậu phương của chiến tranh nhân dân, phải có chế độ chính trị, văn hoá, xã hội ưu việt, tiến bộ hơn hậu phương địch, dần dần có kinh tế, quốc phòng lớn mạnh mới đủ sức bảo đảm hậu cần cho quân đội, cho tiền tuyến chiến thắng.
Ba là, muốn có hậu phương, nhất là những vùng hậu phương chiến lược vững mạnh phải ra sức bảo vệ, giải phóng những nơi “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, nơi đã từng là căn cứ địa hậu phương trong các cuộc kháng chiến trước đó (như Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh, Trường Sơn - Tây Nguyên, Đông Nam Bộ,…), đồng thời phải căn cứ vào thực tế mỗi thời kỳ, mỗi khu vực để tạo đất đứng chân, căn cứ địa, hậu phương chiến lược phù hợp với các đối tượng và hướng tác chiến, với nhu cầu mới của chiến tranh, của quân đội, nhất là với loại hình tiền tuyến là vùng biển đảo xa đất liền. Nói chung, phải hết sức chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong xây dựng, bảo vệ hậu phương tại chỗ, hậu phương chiến lược cũng như hậu phương quốc tế.
Bốn là, xây dựng, bảo vệ hậu phương, chi viện tiền tuyến, bảo đảm hậu cần cho quân đội là một quá trình từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn. Phải kết hợp tốt các nhiệm vụ xây dựng với bảo vệ và chi viện, không coi nhẹ nhiệm vụ nào, song tùy từng thời kỳ từng nơi mà có sự tập trung cho mỗi lĩnh vực. Nhìn chung, xây dựng phải đi liền với bảo vệ, xây dựng là cơ sở để bảo vệ và chi viện, phải trên cơ sở bồi dưỡng sức dân mà huy động sức dân, phải làm tốt công tác hậu phương quân đội, hậu phương sau chiến tranh để “làm kế sâu rễ bền gốc” cho quân đội, cho sự nghiệp bảo vệ đất nước lâu dài.
Năm là, chiến tranh càng hiện đại, vai trò của nhân tố kinh tế, hậu phương đối với quân đội, với tiền tuyến càng tăng lên. Chiến tranh càng hiện đại, thời gian diễn ra ngắn, nhưng mức độ hao tổn lớn và nhanh, nhất là đối với nguồn nhân lực kỹ thuật cao, vũ khí đắt tiền, nên quân đội, tiền tuyến càng lệ thuộc vào hậu phương, song hậu phương lại bị đánh phá khó đáp ứng được. Do đó, phải có sự kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế từ thời bình, từ trước chiến tranh, trong phạm vi toàn quốc cũng như mỗi khu vực, mỗi địa phương để quân đội không bị động, hậu phương không rối loạn khi có chiến sự. Mặt khác, phải kết hợp tốt giữa quảng bá, tuyên truyền tiềm lực quốc phòng của hậu phương, của đất nước với che giấu sức mạnh và cài bẫy về thế trận phòng thủ của Quân đội, tránh sự bộc lộ không cần thiết về tiềm lực, về thế trận.
Tóm lại,hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đỉnh cao là Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Vì thế, trên một góc độ nào đó, cũng có thể nói thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, của Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nói riêng là thắng lợi của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhân tố thắng lợi và những kinh nghiệm xây dựng và bảo vệ hậu phương, chi viện tiền tuyến nói trên vẫn có ý nghĩa thời sự đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay./.



