HÃY ĐỢI ANH VỀ
Khi có lệnh ngừng bắn, tôi là lính Đại đội 949 thuộc Tiểu đoàn 311 từ trong căn cứ kênh Xáng Nguyễn Văn Tiếp A, kênh Ông Kho huyện Cao Lãnh được lệnh hành quân về cầu Đúc, Cao Lãnh. Lúc này thị trấn Cao Lãnh vô cùng tấp nập, khắp nơi đâu đâu cũng thấy người. Bộ đội được bố trí ở trong dân, rải từ chợ Sáu Quốc chạy dài ra tới tận Tịnh Thới gần bến bắc Cao Lãnh. Ngoài bộ đội còn có cha mẹ, anh em, con cháu họ về đây đưa tiền. Trước khi đến nơi đóng quân, các đồng chí chỉ huy đã sinh hoạt cho chúng tôi những qui định khi cùng ăn, cùng ở với dân. Không được tơ hào đến từng cây kim, sợi chỉ của dân. Và qui định này anh em chiến sĩ chúng tôi thực hiện rất nghiêm ngặt, hầu như không có người nào vi phạm.
Mỗi tiểu đội có từ mười một đến mười hai người. Tôi cùng tiểu đội với anh Thường, anh Huyên... Đóng quân thì trong nhà dân nhưng việc ăn uống hàng ngày bộ đội tự đi chợ rồi về nấu. Tuy vậy, ở nơi đơn vị đóng quân, nhân dân đa phần còn nghèo nhưng rất thương bộ đội, khi có đồ ăn ngon, bà con lại múc cho bộ đội hay chừa lại cho những anh em đi hành quân chưa về kịp. Chúng tôi học chính trị, dọn vệ sinh xung quanh nơi đơn vị đóng quân, dạy trẻ em ca hát, dự những buổi mít tinh mừng hòa bình, được xem phim, xem văn công... bà con cùng tham dự những sinh hoạt ấy rất đông. Ai cũng vui mừng, phấn khởi được sống trong hòa bình, tự do mà cách mạng đem lại cho nhân dân sau chín năm chống Pháp dù chỉ ít ngày ngắn ngủi.
Quê tôi ở rạch Cái Tôm, Tân Thuận Đông (Cao Lãnh). Mười hai tuổi tôi đã đi theo cách mạng. Khi còn nhỏ thì tham gia dân quân du kích của xã, lớn lên tôi được thoát ly vào bộ đội chủ lực của Tỉnh đội Long Châu Sa. Do yêu cầu hoạt động, đơn vị phải di chuyển hết chỗ này tới chỗ khác.
Khi tới ấp 1 xã Tân An thị trấn Cao Lãnh này tôi đã gặp một cô gái, sau đó nên vợ nên chồng với người con gái ấy lúc tôi mới hai mươi hai tuổi và vợ tôi kém tôi một tuổi. Được lệnh đi tập kết, tuổi thanh niên tôi cũng rất háo hức muốn đi xa, được học hành, bay nhảy hy vọng sau này trở về sẽ tiến bộ nhưng mới cưới vợ có hơn năm. Nhìn vợ tôi cái bụng ì ạch, chỉ vài tháng nữa là sinh, tôi không nỡ. Cô ấy còn trẻ quá. Gia đình hai bên đều nghèo, khi vợ sinh đẻ biết nhờ cậy ai khi mình không có ở nhà?! Suy nghĩ giữa đi và ở làm tôi cứ đắn đo hoài... Nếu quyết tâm ở lại, lên trình bày với chỉ huy có khi cũng còn hy vọng.
Thế nhưng, vợ tôi lại muốn tôi đi với lý do đi sẽ được nhà nước đào tạo, bồi dưỡng, bởi trước đó tôi đi làm cách mạng thì chỉ có chữ nghĩa thí thì. Ở lại, làm sao mà học mà hành. Và lại, đi có hai năm, quay đi quay lại rồi về thôi. Ở nhà cô ấy sẽ nhờ ba má hai bên trông coi lúc sinh nở. Vợ động viên mãi và cuối cùng tôi quyết định sẽ ra đi tuy trong lòng có nhiều lúc vẫn băn khoăn, lo lắng. Chỉ còn mười ngày nữa bộ đội xuống tàu, kết thúc khoảng thời gian một trăm ngày theo quy định của Hiệp định Genève giữa bên ta và dịch, vợ tôi vừa đi xe lôi, vừa đi bộ từ nhà tới chỗ đơn vị tôi đóng quân, khệ nệ đem theo một cái tưng khá nặng nào bánh với trái cây đủ loại, những thứ cô tự làm và những loại trái cây ở ngay trong vườn nhà mới hái còn tươi nguyên. Hai vợ chồng được quấn quýt bên nhau trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy.
Nhớ lại, tôi rất xúc động và mang ơn bà con mình nơi đơn vị đóng quân trước khi chúng tôi xuống tàu và nhờ những kỷ niệm ấy cho tôi thêm sức mạnh để tôi vượt qua được tất cả những khó khăn sau này khi chúng tôi phải xa nhau đằng đẵng. Đúng là "quân với dân như cá với nước". Không biết bà con có nghi ngờ khoảng thời gian hai năm không, hay nhìn những đôi vợ chồng hầu hết còn rất trẻ trên dưới hai mươi tuổi, mới cưới bịn rịn, chỉ ít ngày nữa thôi sẽ phải chia tay mà xót xa. Họ chẳng hề kiêng cữ hay cấm đoán khi cho vợ chồng người ta ngủ với nhau ngay trong nhà mình, ngược lại luôn luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể, ở những chỗ sạch sẽ, kín đáo, để vợ chồng được gần nhau nhiều hơn trước khi chia tay.
Chúng tôi đã nói chuyện với nhau rất nhiều về hiện tại, về tương lai, về đứa con sắp chào đời không biết nó sẽ là trai hay gái. Nếu là trai thì đặt tên gì và con gái sẽ đặt tên gì. Hai vợ chồng hình dung tới ngày tôi trở về, con chúng tôi gần hai tuổi, lúc ấy vợ tôi sẽ dẫn con ra đón tôi, có lẽ cùng ở bến bắc Cao Lãnh này và tôi sẽ vô cùng hạnh phúc khi lần đầu tiên nhìn thấy con bằng xương bằng thịt, nghe con mình gọi hai tiếng: Ba ơi... Đêm cuối cùng hai vợ chồng bên nhau, chúng tôi nắm chặt tay nhau, tôi đã nói với cô ấy: Hãy chờ anh, em nhé... Trong nước mắt nghẹn ngào, vợ tôi không nói nên lời chỉ biết gật đầu, ôm tôi thật chặt. Tất cả chúng tôi - người đi, người ở không bao giờ nghĩ tới sự xa cách lại dài lâu và lâu đến đáng sợ như vậy. Chưa hết, khi tôi được sống trong hòa bình, độc lập ở miền Bắc thì tôi biết người ở lại, trong đó có vợ con tôi bắt đầu phải sống trong sự trả thù rất hèn hạ của kẻ thù bởi họ là vợ, là con, là cha, là mẹ của những người đi tập kết. Bụng mang dạ chửa, cuộc sống vô cùng cơ cực, vợ tôi luôn phải sống chui sống nhủi, trốn tránh tụi lính, từ sáng đến chiều gần như ở ngoài ruộng, sẩm tối mới dám vô nhà. Chỉ với năm công ruộng, cô ấy vừa nuôi hai mẹ con, ông bà già và phải gói gạo về cho ba má chồng. Khi con sinh ra, lớn lên không dám đi làm khai sinh vì không khai được tên họ cha nên con tôi cũng thất học luôn cho tới ngày độc lập.
Và... cũng chỉ vì cái gật đầu hứa hẹn, hơi ấm và những giọt nước mắt nóng hổi của vợ tôi trong đêm mùa thu năm ấy trên quê hương Cao Lãnh, mà trong mấy chục năm ròng, cứ ngày Bắc, đêm Nam, tôi luôn nhớ về người vợ trẻ vô cùng yêu thương và đứa con sắp chào đời lúc chia tay mà quên đi tất cả mọi đòi hỏi đời thường của người đàn ông đang vào độ sung mãn... Nói thật, có những đêm tôi đã khóc ròng, tưởng đã tới ngưỡng tận cùng của nỗi nhớ, không thể chịu đựng hơn được nữa vì quá nhớ vợ, thương con, khát khao hạnh phúc, dù đang được sống tự do trên đất Bắc.
Đại thắng mùa xuân năm 1975, tôi đã trở về trong đoàn quân chiến thắng. Mấy mươi năm dù ở hai phương trời xa cách nhưng chúng tôi vẫn chung thuỷ chờ nhau. Cám ơn người vợ hiền của tôi. Bà ấy là món quà vô giá mà số phận đã ban tặng cho tôi.



