Hiệp định Paris: Bài học về độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế
Cuộc đàm phán Paris về Việt Nam (1968 - 1973) là cuộc đấu tranh vô cùng cam go, phức tạp, đầy kịch tính giữa Việt Nam và Mỹ. Cuối cùng, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Đây là thắng lợi vang dội của ngoại giao cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của toàn dân tộc, đồng thời để lại những bài học kinh nghiệm ngoại giao rất quý báu, trong đó có bài học về độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam nói chung, cuộc đàm phán tại Hội nghị Paris nói riêng diễn ra trong bối cảnh lịch sử rất phức tạp. Đó là thời kỳ hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã hình thành và phát triển ngày càng lớn mạnh, tích cực giúp đỡ phong trào cách mạng thế giới, trong đó, có cách mạng Việt Nam. Nhưng trong nội bộ các nước XHCN lại có những quan điểm khác nhau về đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh giải phóng dân tộc, thậm chí đã nảy sinh những mâu thuẫn gay gắt. Mặt khác, kẻ thù của nhân dân Việt Nam là đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh nhất khối tư bản chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng, nhiều kinh nghiệm, mưu mô, thủ đoạn và luôn muốn thương lượng trên thế mạnh. Tư tưởng “phục Mỹ, sợ Mỹ” xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới.
Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris, ngày 27/1/1973. Ảnh: Tư liệuĐỉnh điểm của chính sách ngoại giao nước lớn của Mỹ diễn ra vào tháng 5/1972. Ngày 1/5/1972, Richard Nixon triệu tập Henry A. Kissinger đến văn phòng làm việc của ông ta để bàn bạc về thủ đoạn đối phó cho lần đàm phán sắp tới. Dù chịu những thất bại to lớn trên cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam (đặc biệt là nhận được tin báo cáo việc đối phương đã kiểm soát tỉnh Quảng Trị và đang chuẩn bị tiến công vào Thừa Thiên Huế), nhưng Richard Nixon vẫn tin rằng có thể “trao đổi, thỏa hiệp” với Liên Xô để ép Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa nhượng bộ(4). Từ đó, Richard Nixon chỉ thị cho Henry A. Kissinger: “Dù cho bất kỳ việc gì xảy ra, thì trong các cuộc đàm phán vẫn không được thay đổi gì cả. Tôi không muốn ông nhượng bộ người Bắc Việt Nam chút nào. Do những tin tức như thế này, họ sẽ bốc lên như diều. Ông sẽ phải kéo họ xuống đất bằng cách ứng xử của mình. Không đa cảm, không nhã nhặn, không lịch sự. Vậy chúng ta sẽ cho các ông bạn Xô viết của chúng ta biết rằng tôi đã sẵn sàng bỏ rơi Hội nghị thượng đỉnh, nếu như đó chính là cái giá họ muốn bắt ta phải trả. Trong bất kỳ trường hợp nào, tôi cũng sẽ không đến Hội nghị thượng đỉnh nếu như chúng ta vẫn còn gặp những khó khăn ở Việt Nam”(5).Trong cuộc gặp ngày 2/5/1972 tại Paris, Henry A. Kissinger vẫn giữ thái độ lập trường thương lượng trên thế mạnh, đồng thời, đề cập đến việc Mỹ cũng đã trao đổi thảo luận với Liên Xô về những giải pháp nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam. Trước thái độ lập trường đó của Henry A. Kissinger, cố vấn Lê Đức Thọ (Việt Nam) tỏ ra kiên quyết, nói: “Từ trước tới nay chúng tôi đã nói nhiều lần rằng có vấn đề gì các ông nói chuyện trực tiếp với chúng tôi, và chúng tôi trực tiếp nói chuyện với các ông. Chúng tôi không qua một người thứ ba nào cả. Bây giờ có gì thì chúng tôi sẵn sàng thảo luận với các ông”(6).Mặt khác, ta kiên trì trao đổi, giải thích, thông tin về tiến trình đàm phán cho bạn bè quốc tế, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ, viện trợ của bạn, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực từ chính sách ngoại giao nước lớn của Mỹ.Những thắng lợi quân sự to lớn của cách mạng Việt Nam trên chiến trường (Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971, cuộc tiến công chiến lược năm 1972,...) đã gây cho quân địch những thiệt hại nặng nề, từng bước làm phá sản chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ, tạo thế thuận lợi cho ta trên bàn đàm phán. Không lay chuyển được lập trường của Việt Nam trên bàn đàm phán, Richard Nixon bộ lộc rõ bản chất rất hiếu chiến bằng việc tăng cường các hành động quân sự trên chiến trường. Ngày 14/12/1972, Richard Nixon phê chuẩn kế hoạch mở cuộc tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng. Ông ta lệnh cho Đô đốc Thomas H. Moorer: “Đây là cơ hội của ông được sử dụng sức mạnh quân sự của chúng ta một cách có hiệu quả để thắng cuộc chiến tranh này; nếu ông không làm được việc đó, tôi cho rằng ông phải chịu trách nhiệm”(7). Như vậy, mục đích sử dụng B-52 đánh phá Hà Nội hoàn toàn nằm trong sự tính toán của chính quyền Richard Nixon, và sự tính toán ấy là có cơ sở nhằm những mục tiêu cơ bản: Thứ nhất, giành một thắng lợi quyết định về quân sự, tạo thế mạnh trong cuộc đàm phán tại Hội nghị Paris, buộc Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa phải ký kết hiệp định kết thúc chiến tranh có lợi cho Mỹ. Thứ hai, tàn phá tiềm lực kinh tế, quốc phòng miền Bắc Việt Nam, nhất là những thành phố quan trọng (Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên), làm cho miền Bắc kiệt quệ, không đủ sức chi viện cho cuộc kháng chiến ở miền Nam. Thứ ba, bằng cuộc tập kích đó, bảo đảm cho quân đội và chính quyền Sài Gòn có thêm thời gian ổn định để tăng cường lực lượng, tạo thế mạnh cho mọi giải pháp chính trị về sau. Thứ tư, gây tâm lý hoang mang, rối loạn trong nhân dân Việt Nam, ngầm răn đe và ngăn chặn miền Bắc Việt Nam mở cuộc tiến công lớn ở miền Nam sau khi hiệp định được ký kết. Thứ năm, thông qua cuộc tập kích chiến lược lớn chưa từng có và sự tàn phá ghê gớm của nó, Mỹ muốn chứng minh cho thế giới sức mạnh quân sự của Mỹ và răn đe các nước đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc.| Hội nghị Paris (1968 - 1973) mãi đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung và ngoại giao cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh nói riêng như một dấu son không bao giờ phai mờ. Kỉ niệm 50 năm ngày ký kết Hiệp định Paris (27/1/1973 - 27/1/2023), chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn về tầm vóc, ý nghĩa của văn kiện lịch sử đặc biệt này. Nhiều bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc đàm phán lịch sử này, trong đó, bài học về nêu cao tinh thần độc lập và đoàn kết quốc tế vẫn vẹn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. |
Từ ngày 18 đến ngày 29/12/1972, Mỹ mở cuộc tập kích đường không chiến lược (chủ yếu bằng máy bay B-52) vào Hà Nội, Hải PhòngTừ ngày 18 đến ngày 29/12/1972, Mỹ mở cuộc tập kích đường không chiến lược (chủ yếu bằng máy bay B-52) vào Hà Nội, Hải Phòng. Nhưng cuộc tập kích bị thất bại hoàn toàn. Lực lượng phòng không miền Bắc Việt Nam đã bắn rơi 81 máy bay các loại (trong đó có 34 B-52), buộc Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải ký kết hiệp định chấm dứt chiến tranh (27/1/1973). Theo đó, Mỹ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; rút hết quân viễn chinh và quân các nước đồng minh, phá hết các căn cứ quân sự Mỹ, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam; các bên để cho nhân dân miền Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình thông qua tổng tuyển cử tự do; công nhận hiện trạng thực tế tại miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị; ngừng bắn tại chỗ, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt. Với Hiệp định Paris, chúng ta đã “đánh cho Mỹ cút”, tạo điều kiện thuận lợi để “đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa Xuân 1975./. TS. Trần Hữu HuyViện Lịch sử quân sự, Bộ Quốc phòng



