Hiệp định Paris năm 1973: Mốc son chói lọi của Ngoại giao cách mạng Việt Nam
Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước và bản sắc ngoại giao của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặt trận ngoại giao luôn đóng vai trò quan trọng, phối hợp chặt chẽ với mặt trận quân sự và chính trị, góp phần tạo nên những thắng lợi làm rạng rỡ lịch sử dân tộc, từ đàm phán bảo vệ nền độc lập sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đến đàm phán, ký kết Hiệp định Geneva năm 1954 và đỉnh cao là ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27/1/1973.
Với tầm nhìn chiến lược, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề ra chủ trương ngoại giao là một mặt trận quan trọng, phối hợp với mặt trận quân sự và chính trị để đấu tranh với Mỹ, mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”. Năm 1968, đàm phán tại Hội nghị Paris chính thức được mở ra. Cục diện “vừa đánh, vừa đàm” kéo dài gần 5 năm với 201 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng. Đây thật sự là những cuộc đấu trí cam go, quyết liệt nhằm từng bước chuyển hóa thắng lợi của quân dân ta trên chiến trường thành thắng lợi trên bàn đàm phán.
Hiệp định Paris được ký kết đã kết thúc thắng lợi cuộc đàm phán dài nhất, phức tạp nhất trong lịch sử ngoại giao cách mạng Việt Nam, thể hiện sáng ngời bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, thấm đậm tư tưởng, phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh. Thắng lợi này có ý nghĩa chiến lược, tạo nên cục diện mới để quân và dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất Tổ quốc, mở ra kỷ nguyên hòa bình, độc lập, thống nhất và phát triển ở nước ta.
Thắng lợi tại Hội nghị Paris bắt nguồn từ đường lối cách mạng đúng đắn và sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; từ khát vọng hòa bình cháy bỏng, truyền thống yêu nước nồng nàn, khối đại đoàn kết, bản sắc văn hóa và trí tuệ của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; là kết tinh thành quả đấu tranh kiên cường và hy sinh to lớn của quân và dân ta trên mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, từ Đồng khởi Bến Tre năm 1960, đến Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968, Tiến công chiến lược Xuân-Hè năm 1972 và chiến thắng vang dội 12 ngày đêm “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.
Trong thắng lợi chung của dân tộc, có đóng góp rất quan trọng của đội ngũ cán bộ ngoại giao Việt Nam. Hội nghị Paris đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của ngoại giao cách mạng Việt Nam, đã tôi luyện nên những nhà ngoại giao xuất sắc trong thời đại Hồ Chí Minh như các đồng chí Lê Đức Thọ, Nguyễn Duy Trinh, Xuân Thủy, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Cơ Thạch và nhiều cán bộ ngoại giao ưu tú khác. Kỷ niệm 50 năm Ngày ký Hiệp định Paris, chúng ta biết ơn vô hạn công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thế hệ cách mạng tiền bối; đời đời biết ơn sự hy sinh vô cùng to lớn của biết bao cán bộ, chiến sĩ, đồng bào cả nước, sự ủng hộ và hướng về Tổ quốc của kiều bào ta ở nước ngoài; ghi nhớ sự cống hiến to lớn của đội ngũ cán bộ tham gia đàm phán, ký kết và thực thi Hiệp định Paris.
Việc ký kết Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao cho các dân tộc và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới vững tin vào chiến thắng của chính nghĩa, đạo lý và công lý.
Phong trào chống chiến tranh xâm lược phi nghĩa và ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chính nghĩa của nhân dân Việt Nam đã trở thành biểu tượng của thời đại và tiêu biểu cho lương tri loài người. Chúng ta luôn ghi nhớ và biết ơn chân thành các nước xã hội chủ nghĩa, bạn bè quốc tế và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới về tình đoàn kết trong sáng, sự ủng hộ, giúp đỡ dành cho nhân dân ta trong suốt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.


