Hiệp ước Giáp Tuất (1874) – Văn bản pháp lý hợp pháp hóa ách thôn tính toàn bộ sáu tỉnh Nam Kỳ của thực dân Pháp
Hiệp ước Giáp Tuất (ký ngày 15 tháng 3 năm 1874) là bản hiệp ước bất bình đẳng thứ hai giữa triều đình nhà Nguyễn và thực dân Pháp. Tiếp nối hậu quả của Hiệp ước Nhâm Tuất 1862, văn bản này chính thức thừa nhận quyền sở hữu hợp pháp của Pháp đối với toàn bộ sáu tỉnh Nam Kỳ (Lục tỉnh), đồng thời ràng buộc triều đình Huế vào những điều kiện khắt khe về ngoại giao và thương mại.
Sau khi cưỡng chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) vào năm 1867, thực dân Pháp ráo riết củng cố bộ máy cai trị thuộc địa nhưng vẫn vấp phải sự kháng cự bền bỉ của các phong trào nghĩa quân và sức ép ngoại giao từ triều đình Huế. Để hợp pháp hóa toàn bộ vùng đất đã chiếm đóng và mở rộng ảnh hưởng ra khu vực miền Trung, phía Pháp đã dùng sức mạnh quân sự kết hợp áp lực ngoại giao để ép triều đình Tự Đức ngồi vào bàn đàm phán. Ngày 15 tháng 3 năm 1874, tại Sài Gòn, đại diện triều đình nhà Nguyễn đã chính thức ký kết bản Hiệp ước Giáp Tuất gồm 22 điều khoản với đại diện chính quyền thực dân Pháp.
Theo các nội dung cốt lõi của hiệp ước, triều đình nhà Nguyễn chính thức công nhận chủ quyền vĩnh viễn của Pháp trên toàn bộ sáu tỉnh Nam Kỳ lục tỉnh, chấm dứt hoàn toàn hy vọng ngoại giao đòi lại đất cũ của triều đình Huế. Đổi lại, Pháp hứa trả lại thành Hải Phòng, Hà Nội và rút quân khỏi miền Bắc sau khi đã gây ra các vụ va chạm quân sự trước đó, đồng thời hứa viện trợ một số tàu chiến và vũ khí cho triều đình. Tuy nhiên, hiệp ước này cũng trao cho Pháp quyền kiểm soát sâu rộng về thương mại (mở cửa sông Hồng cho tàu buôn lưu thông, tự do buôn bán và truyền đạo) và đặt nền ngoại giao của Việt Nam dưới sự kiềm chế của Pháp. Việc ký kết Hiệp ước Giáp Tuất là một bước thụt lùi nghiêm trọng nữa về chủ quyền quốc gia, khiến phái chủ chiến trong triều đình và đông đảo sĩ phu, nhân dân vô cùng căm phẫn, tiếp tục nuôi dưỡng ngọn lửa đấu tranh kiên cường trong các giai đoạn tiếp theo.



