Hồ Biểu Chánh và nửa thế kỷ đam mê tiểu thuyết
"Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh cũng giống như tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách. Hai nhà văn đều lấy luân lý làm gốc, lấy cổ gia đình làm khuôn mẫu, lấy sự trung hậu làm điều cốt yếu trong mọi việc ở đời...".
"Tuy nhiên, họ Hoàng thiên về tả tình và giọng văn nhiều chỗ ủy mị, cầu kỳ; còn họ Hồ thiên về tả việc và lời văn mạnh mẽ, giản dị…" (Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, 1959).
Xuất thân nghèo khó
Hồ Biểu Chánh tên thật Hồ Văn Trung, sinh năm 1885, trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công cũ. Năm lên 9, ông bắt đầu học chữ nho ở trường làng. Khi gia đình dời đến chợ giồng Ông Huê, ông mới học chữ quốc ngữ. Năm học 1902 -1903, ông được học bổng của Trường trung học Mỹ Tho rồi Trường Chasseloup-Laubat Sài Gòn. Năm 1905, ông thi bằng Thành chung và đậu hạng nhì.
Nhà văn Hồ Biểu Chánh trên bìa tạp chí Văn, 1967
ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG chụp lại
Tự thuật về quãng đời nghèo khó, Hồ Biểu Chánh viết: "Còn 2 bữa nữa tới ngày phải đi, mẹ than hết tiền, cha mới đi kiếm người mượn tiền… Bữa chót, đến tối mà cũng chưa thấy cha về. Thiệt khuya, mẹ gói một cặp áo hàng, đi bộ xuống chợ mà cầm, được 3 đồng. Mẹ xếp giấy bỏ túi, còn bạc thì đưa hết cho ta. Lúc tàu mở dây mà chạy, đứng ngó mẹ trên cầu tàu, ta chảy nước mắt…" (Nguyễn Khuê, Chân dung Hồ Biểu Chánh, 1974).
Sau khi đậu bằng Thành chung, Hồ Biểu Chánh định xin dạy học, nhưng người thầy cũ khuyên ông nên thi vào ngạch ký lục. Năm 1906, ông thi đậu ký lục Soái phủ Nam kỳ và làm việc ở Dinh Thượng thơ tại Sài Gòn. Đến năm 1911, do bị nghi ngờ thân thiện với nhóm Trần Chánh Chiếu nên ông bị đổi xuống Bạc Liêu. Thời bấy giờ, làm ký lục rất dễ kiếm tiền "vì Tòa bố Bạc Liêu không khác nào chợ bán chè cháo, tiền trao cháo múc", nhưng ông vẫn giữ được cảnh đời thanh bạch.
Năm 1936, ông được thăng Đốc phủ sứ rồi xin hồi hưu vì làm công chức đã 30 năm. Viện lẽ không có người thay thế, chính quyền thuộc địa lưu dụng ông đến giữa năm 1941.



