Hồ Chí Minh - cả cuộc đời vì nước, vì dân
Năm 1946, phát biểu tại cuộc mít tinh của nhân dân Hà Nội tiễn Người đi thăm nước Pháp tổ chức ở Việt Nam học xá, Hồ Chí Minh nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân; Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, là vì mục đích đó. Bất kì ở đâu, bất kì lúc nào, tôi cũng chỉ có một tâm nguyện: làm cho ích quốc, lợi dân” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, CTQG, H, 2011, tr. 240)
“Cuộc đời cách mạng của Hồ Chí Minh là một chuỗi những năm tháng vô cùng gian khổ. Hai lần ngồi tù, một lần bị tuyên án tử hình, có giai đoạn hoạt động sôi nổi, được đánh giá rất cao, có giai đoạn bị hiểu lầm, nghi kị, không được giao nhiệm vụ… Song nhờ ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, Hồ Chí Minh đã bình tĩnh, kiên cường, chủ động vượt qua thử thách, gian nguy, kiên trì mục đích sống, bảo vệ chân lí, giữ vững quan điểm cách mạng của mình”.
Từ lúc thiếu niên cho đến khi về với cõi người hiền, Bác Hồ đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng. Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lược, người dân làm nô lệ, Hồ Chí Minh từ một người yêu nước đã trở thành người cộng sản. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Bác đã đi đến nhiều nơi ở các châu lục trên thế giới, làm nhiều nghề lao động khác nhau vừa để kiếm sống, vừa hoạt động. Với tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc, Bác luôn có hoài bão Tổ quốc được giải phóng, nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Chính vì vậy, Người chỉ có một ham muốn, “ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Bác đã dành trọn cả cuộc đời phấn đấu vì nước, vì dân. Với đạo đức trong sáng, tác phong khiêm tốn, giản dị, Bác Hồ đã trở thành tấm gương đạo đức sáng ngời về cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư.
Nghiên cứu tiểu sử của Người, chúng ta dễ nhận ra ba cụm từ Người nói năm 1946: ẩn nấp nơi núi non, ra vào trốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, không chỉ là nghĩa bóng, mà đã và sẽ diễn ra như cuộc đời thực của Người.
Ngày 28 tháng Giêng năm 1941, trở về nước sau 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920, người thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, người từ năm 1924 đã được Quốc tế Cộng sản xếp vào hàng ngũ lãnh đạo trẻ tuổi - cùng các đồng chí của mình ở và làm việc trong hang đá và rừng sâu của Cao Bằng và các tỉnh miền núi phía Bắc. Năm 1945, sau Cách mạng tháng Tám, Chính phủ Hồ Chí Minh về làm việc ở Hà Nội. Nhưng với tầm nhìn xa, trông rộng, xem xét tương quan lực lượng và dã tâm của thực dân Pháp, Người tiên đoán “sẽ phải trở lại Tân Trào một lần nữa”. Quả vậy, sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, Trung ương Đảng và Chính phủ đã chuyển về Tân Trào. Và lần này việc ở rừng kéo dài 9 năm, đến tận sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.
Tuy rất cảnh giác và tuân thủ các nguyên tắc hoạt động bí mật, song trước sự truy lùng gắt gao của chủ nghĩa đế quốc quốc tế, Nguyễn Ái Quốc- người mang án tử hình của chế độ Nam Triều, người mang nhiều lệnh truy nã của các nước đế quốc - đã 2 lần sa vào tay giặc. Năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hồng Kông. Thực dân Pháp vô cùng hí hửng đã tìm mọi cách để yêu cầu người Anh cho dẫn độ Người về Việt Nam. Song cái tội: yêu nước chống Pháp xâm lược của Nguyễn Ái Quốc không thể bị kết tội ở Anh, lại nhờ Quốc tế Đỏ vận động can thiệp, nhất là sự bảo vệ hết sức hiệu quả của Luật sư F. H. Loseby và các cộng sự, trải qua 9 phiên tòa xét xử, cuối cùng nhà cầm quyền Anh phải trả tự do cho Người...Sau hơn một năm ở Trung Quốc bơ vơ, mất liên lạc với Đảng ta và Quốc tế Cộng sản, mãi tới giữa năm 1934, thông qua bà Tống Khánh Linh và Paul Vaillant-Couturier, Nguyễn Ái Quốc mới trở lại với những người đồng chí ở Matxcơva.
Năm 1942, trên đường từ Pắc Bó đến Trùng Khánh để liên lạc với tổ chức chống phát xít Nhật quốc tế, Hồ Chí Minh bị nhà cầm quyền Quốc dân Đảng Trung Hoa bắt trái phép ở Quảng Tây. Hơn một năm trời bị giam trong ngục tù Quốc dân Đảng, Người đã phải qua bao cực hình cay đắng. Chân bị xích, tay bị trói, bị giải đi giải lại suốt 30 nhà lao của 18 huyện thành trên đất Quảng Tây. Trong những ngày vô cùng cực khổ ấy, Người đã để lại cho đời một di sản vô giá, một áng hùng văn thể hiện khí phách, tâm hồn trong sáng, lạc quan cách mạng đến ngạc nhiên: tập thơ Nhật kí trong tù.
“Cuộc đời cách mạng của Hồ Chí Minh là một chuỗi những năm tháng vô cùng gian khổ. Hai lần ngồi tù, một lần bị tuyên án tử hình, có giai đoạn hoạt động sôi nổi, được đánh giá rất cao, có giai đoạn bị hiểu lầm, nghi kị, không được giao nhiệm vụ… Song nhờ ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, Hồ Chí Minh đã bình tĩnh, kiên cường, chủ động vượt qua thử thách, gian nguy, kiên trì mục đích sống, bảo vệ chân lí, giữ vững quan điểm cách mạng của mình”.
Từ lúc thiếu niên cho đến khi về với cõi người hiền, Bác Hồ đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng. Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lược, người dân làm nô lệ, Hồ Chí Minh từ một người yêu nước đã trở thành người cộng sản. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Bác đã đi đến nhiều nơi ở các châu lục trên thế giới, làm nhiều nghề lao động khác nhau vừa để kiếm sống, vừa hoạt động. Với tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc, Bác luôn có hoài bão Tổ quốc được giải phóng, nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Chính vì vậy, Người chỉ có một ham muốn, “ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Bác đã dành trọn cả cuộc đời phấn đấu vì nước, vì dân. Với đạo đức trong sáng, tác phong khiêm tốn, giản dị, Bác Hồ đã trở thành tấm gương đạo đức sáng ngời về cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư.
Nghiên cứu tiểu sử của Người, chúng ta dễ nhận ra ba cụm từ Người nói năm 1946: ẩn nấp nơi núi non, ra vào trốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, không chỉ là nghĩa bóng, mà đã và sẽ diễn ra như cuộc đời thực của Người.
Ngày 28 tháng Giêng năm 1941, trở về nước sau 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920, người thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, người từ năm 1924 đã được Quốc tế Cộng sản xếp vào hàng ngũ lãnh đạo trẻ tuổi - cùng các đồng chí của mình ở và làm việc trong hang đá và rừng sâu của Cao Bằng và các tỉnh miền núi phía Bắc. Năm 1945, sau Cách mạng tháng Tám, Chính phủ Hồ Chí Minh về làm việc ở Hà Nội. Nhưng với tầm nhìn xa, trông rộng, xem xét tương quan lực lượng và dã tâm của thực dân Pháp, Người tiên đoán “sẽ phải trở lại Tân Trào một lần nữa”. Quả vậy, sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, Trung ương Đảng và Chính phủ đã chuyển về Tân Trào. Và lần này việc ở rừng kéo dài 9 năm, đến tận sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.
Tuy rất cảnh giác và tuân thủ các nguyên tắc hoạt động bí mật, song trước sự truy lùng gắt gao của chủ nghĩa đế quốc quốc tế, Nguyễn Ái Quốc- người mang án tử hình của chế độ Nam Triều, người mang nhiều lệnh truy nã của các nước đế quốc - đã 2 lần sa vào tay giặc. Năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hồng Kông. Thực dân Pháp vô cùng hí hửng đã tìm mọi cách để yêu cầu người Anh cho dẫn độ Người về Việt Nam. Song cái tội: yêu nước chống Pháp xâm lược của Nguyễn Ái Quốc không thể bị kết tội ở Anh, lại nhờ Quốc tế Đỏ vận động can thiệp, nhất là sự bảo vệ hết sức hiệu quả của Luật sư F. H. Loseby và các cộng sự, trải qua 9 phiên tòa xét xử, cuối cùng nhà cầm quyền Anh phải trả tự do cho Người...Sau hơn một năm ở Trung Quốc bơ vơ, mất liên lạc với Đảng ta và Quốc tế Cộng sản, mãi tới giữa năm 1934, thông qua bà Tống Khánh Linh và Paul Vaillant-Couturier, Nguyễn Ái Quốc mới trở lại với những người đồng chí ở Matxcơva.
Năm 1942, trên đường từ Pắc Bó đến Trùng Khánh để liên lạc với tổ chức chống phát xít Nhật quốc tế, Hồ Chí Minh bị nhà cầm quyền Quốc dân Đảng Trung Hoa bắt trái phép ở Quảng Tây. Hơn một năm trời bị giam trong ngục tù Quốc dân Đảng, Người đã phải qua bao cực hình cay đắng. Chân bị xích, tay bị trói, bị giải đi giải lại suốt 30 nhà lao của 18 huyện thành trên đất Quảng Tây. Trong những ngày vô cùng cực khổ ấy, Người đã để lại cho đời một di sản vô giá, một áng hùng văn thể hiện khí phách, tâm hồn trong sáng, lạc quan cách mạng đến ngạc nhiên: tập thơ Nhật kí trong tù.
Đầu năm 1930, Người triệu tập các tổ chức cộng sản Việt Nam họp ở Hồng Kông, quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Lời kêu gọi... do Người soạn thảo.
Tuy nhiên, những sáng kiến tuyệt vời của Nguyễn Ái Quốc trong việc huy động sức mạnh toàn dân tộc, tranh thủ mọi lực lượng, mọi giai cấp ngoài giai cấp vô sản cho công cuộc giải phóng, lại bị một số đồng chí lãnh đạo Quốc tế Cộng sản do không nắm bắt được tình hình phân hóa giai cấp trong xã hội Việt Nam, không nắm được khát vọng giải phóng dân tộc của đại bộ phận dân tộc Việt Nam, lại đang mắc bệnh “tả khuynh”, nên không đồng tình, thậm chí còn chụp cho Người chiếc mũ “dân tộc chủ nghĩa”.
Nhờ hiểu rõ tình hình và đặc điểm dân tộc và giai cấp ở Đông Dương, Hồ Chí Minh đã chủ trương giải quyết hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ theo kiểu riêng của Đông Dương, với bước đi và cách làm phù hợp. Nhưng sau khi bộc lộ quan điểm ấy ở Hội nghị thành lập Đảng và không được Quốc tế Cộng sản chấp nhận, Người đã thể hiện tính tổ chức và tính kỷ luật cao trước Quốc tế Cộng sản, mà thể hiện cao nhất là với cương vị chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10 năm 1930. Hồ Chí Minh đã tán thành Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Trần Phú khởi thảo, tán thành Án nghị quyết của Hội nghị, cho dù Luận cương và Án nghị quyết ấy phủ nhận những văn bản mà Hội nghị thành lập Đảng đã thông qua. Thậm chí sau đó 6 tháng, vào tháng 4 năm 1931, Hồ Chí Minh còn có thư phê bình Xứ ủy Trung kỳ chưa chịu đổi tên Đảng theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản(1).
Thực hiện Hiệp định Giơnevơ 1954 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, đất nước ta tạm thời bị chia làm 2 miền. Là linh hồn của Đảng và dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ đã tổ chức, lãnh đạo toàn dân tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng với hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền: xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Người vạch ra những bước đi đầu tiên của Chủ nghĩa Xã hội, trực tiếp quyết định đường lối giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tranh thủ tối đa sự ủng hộ và đồng tình của bạn bè quốc tế. Với bộ quần áo ka ki giản dị và đôi dép cao su huyền thoại, trong 15 năm từ 1954 đến 1969, Người đã dành hơn 900 lần về với cơ sở, đến với hợp tác xã, công trường, xí nghiệp, trận địa pháo cao xạ... mang đến cho mọi người dân từ thành thị đến nông thôn, các chiến sĩ bộ đội, thanh niên xung phong... sự động viên chân thành, tình cảm thiết tha và sự yêu thương trìu mến.
Thực hiện Hiệp định Giơnevơ 1954 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, đất nước ta tạm thời bị chia làm 2 miền. Là linh hồn của Đảng và dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ đã tổ chức, lãnh đạo toàn dân tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng với hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền: xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Người vạch ra những bước đi đầu tiên của Chủ nghĩa Xã hội, trực tiếp quyết định đường lối giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tranh thủ tối đa sự ủng hộ và đồng tình của bạn bè quốc tế. Với bộ quần áo ka ki giản dị và đôi dép cao su huyền thoại, trong 15 năm từ 1954 đến 1969, Người đã dành hơn 900 lần về với cơ sở, đến với hợp tác xã, công trường, xí nghiệp, trận địa pháo cao xạ... mang đến cho mọi người dân từ thành thị đến nông thôn, các chiến sĩ bộ đội, thanh niên xung phong... sự động viên chân thành, tình cảm thiết tha và sự yêu thương trìu mến.



