Bài viết

Hồ Chí Minh- Câu chuyện về chiếc áo vá vai và bát cơm trộn ngô

Hồ Chí Minh- Câu chuyện về chiếc áo vá vai và bát cơm trộn ngô

28/10/2026Nguyễn Thị Bé Thùy (Phường An Lạc)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 10 năm 1954, sau chín năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp thắng lợi, Trung ương Đảng và Chính phủ trở về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Là Chủ tịch nước, người đứng đầu một quốc gia vừa giành lại độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh được bố trí làm việc tại Phủ Toàn quyền Đông Dương nguy nga, lộng lẫy do người Pháp để lại. Nhưng khi bước chân vào khu dinh thự đồ sộ ấy, Người dứt khoát từ chối ở lại tòa nhà chính. Bác chọn cho mình một căn nhà nhỏ của người thợ điện phục vụ thời thuộc địa, nằm nép mình bên góc vườn rợp bóng cây; đến năm 1958, Người chuyển sang ở và làm việc tại một ngôi nhà sàn gỗ mộc mạc làm theo kiểu đồng bào Việt Bắc, tầng dưới để tiếp khách, tầng trên chia làm hai phòng nhỏ vừa đủ kê một chiếc giường đơn, bàn làm việc và giá sách.

Trong những năm tháng lãnh đạo đất nước vừa khắc phục hậu quả chiến tranh, vừa chi viện cho chiến trường miền Nam, nếp sống của Bác vẫn giữ trọn sự giản dị, tiết kiệm đến từng chi tiết nhỏ nhất. Đồ dùng cá nhân của Người suốt nhiều năm chỉ gói gọn trong vài bộ quần áo kaki bạc màu, đôi dép cao su cắt từ lốp xe tải cũ của quân đội viễn chinh Pháp, và một chiếc quạt lá cọ bình dị.

Có một câu chuyện xúc động mà các đồng chí cận vệ như Vũ Kỳ, Tạ Quang Chiến luôn nhớ mãi về chiếc áo lụa của Bác. Đó là chiếc áo nâu may bằng lụa Hà Đông mà Bác mặc đã nhiều năm, cổ áo và vai áo qua bao lần giặt phơi đã sờn rách chỉ. Thấy vậy, các đồng chí phục vụ nhiều lần đề nghị xin may cho Bác chiếc áo mới, nhưng Người đều lắc đầu từ chối. Bác bảo:

— Đất nước mình còn nghèo, đồng bào miền Bắc vừa qua nạn đói chưa lâu, chiến sĩ ngoài mặt trận còn thiếu thốn manh áo lành lặn. Áo của Bác chỉ sờn rách một chút ở vai, các chú khéo tay vá lại một miếng là mặc tốt, việc gì phải thay mới cho tốn kém.

Biết tính Bác, người phục vụ đành tìm một mảnh vải cùng màu, khéo léo mạng lại phần vai rách. Khi chiếc áo được đưa lại, Bác mặc thử, vuốt nhẹ đường chỉ rồi cười bảo:

— Đấy, các chú thấy chưa? Vá lại thế này vừa đẹp, vừa bền, lại tiết kiệm được một tấm vải cho nhân dân.

Chiếc áo ấy, cùng những bộ quần áo kaki sờn gấu vá đi vá lại nhiều lần, đã theo Bác đi qua những buổi tiếp khách quốc tế, những chuyến công tác bí mật về nông thôn, và cả những giờ phút làm việc thâu đêm bên bàn giấy.

Sự tiết kiệm của Bác không chỉ dừng ở manh áo, mà thấm sâu vào từng bữa ăn thường nhật. Bữa ăn của vị Chủ tịch nước thường chỉ có một bát canh cua hoặc canh rau muống dầm tương, vài quả cà pháo muối giòn, một khúc cá kho nhỏ hoặc vài lát thịt kho đậm vị xứ Nghệ. Bác có thói quen ăn hết sạch phần cơm và thức ăn trong bát, không bao giờ để rơi vãi dù chỉ một hạt cơm. Bác dặn các đồng chí phục vụ:

— Hạt gạo là mồ hôi, nước mắt của người nông dân một nắng hai sương làm ra. Mình ăn mà để thừa mứa là có tội với người trồng lúa.

Những năm miền Bắc gặp khó khăn, thiên tai hạn hán, đồng bào phải ăn cơm độn ngô, độn khoai sắn, Bác liền chỉ thị cho nhà bếp nấu cơm của Bác cũng phải độn một nửa ngô hoặc sắn như nhân dân. Nhiều lần các đồng chí thương Bác tuổi cao sức yếu, lén nấu cơm trắng riêng cho Người, nhưng hễ phát hiện ra, Bác nhẹ nhàng nhắc nhở:

— Bác là Chủ tịch nước, nhưng Bác cũng là một người dân. Dân ăn thế nào, Bác ăn thế ấy. Khi nào toàn dân được ăn cơm trắng no đủ thì Bác mới yên lòng ăn cơm trắng.

Không chỉ tiết kiệm cho bản thân, Bác còn coi trọng từng đồng ngân sách của quốc gia. Mỗi khi viết bản thảo, Người thường tận dụng mặt sau của những tờ lịch cũ hoặc những tờ công văn chỉ in một mặt. Các bài báo Bác viết gửi đăng báo Nhân Dân hay lời kêu gọi quốc dân đồng bào đều được viết nắn nót trên những mẩu giấy tận dụng như thế. Mỗi lần đi công tác các tỉnh xa, Bác luôn dặn các đồng chí tùy tùng chuẩn bị sẵn cơm nắm, muối vừng mang theo từ Hà Nội, dọc đường dừng chân dưới bóng cây ven đường để ăn, kiên quyết không báo trước cho các địa phương để tránh việc cán bộ dưới cơ sở phải bày vẽ cơm linh đình, tốn kém tiền bạc và công sức của dân.

Nếp sống thanh bạch, cần kiệm của Bác không phải là sự kham khổ gượng ép, mà bắt nguồn từ một tấm lòng nhân ái bao la, luôn đặt nỗi lo của muôn dân lên trên sự thụ hưởng của cá nhân. Cho đến những ngày tháng Tám năm 1969, khi sức khỏe đã yếu nhiều, nằm trên giường bệnh, Người vẫn dặn dò trong bản Di chúc: sau khi Người qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

Chiếc áo vá vai, bát cơm độn ngô và ngôi nhà sàn lộng gió của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành bài học lịch sử sống động, minh chứng cho tầm vóc của một vĩ nhân: càng ở đỉnh cao quyền lực, người ta càng tìm thấy ở Bác sự giản dị tột cùng, một cuộc đời trọn vẹn hiến dâng vì nước, vì dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn