HỒ CHÍ MINH: HÀNH TRÌNH TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC VÀ NGHĨA KHÍ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
Câu chuyện tái hiện cuộc đời, sự nghiệp cách mạng vĩ đại cùng hành trình bôn ba tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất, người đã dẫn dắt dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ thực dân, phong kiến và khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thời kỳ lịch sử: Cận đại và Hiện đại Việt Nam (Thế kỷ XX / Thời kỳ đấu tranh giành độc lập, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ). THÔNG TIN NHÂN CHỨNG (NHÂN VẬT LỊCH SỬ) Họ và tên đầy đủ: Hồ Chí Minh (tên khai sinh: Nguyễn Sinh Cung; tên đi học: Nguyễn Tất Thành; những năm tháng hoạt động cách mạng còn dùng tên Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh khác). Năm sinh: 1890 (ngày 19 tháng 5 năm 1890 – mất ngày 2 tháng 9 năm 1969). Phân loại Nhân chứng: Nhân vật lịch sử kiệt xuất / Lãnh tụ tối cao của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam / Lãnh đạo Nhà nước. Quê quán / Nơi ở: Quê nội: Làng Kim Liên (làng Sen), xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Quê ngoại: Làng Hoàng Trù (làng Chùa), xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nơi ở lâu dài và qua đời: Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Thủ đô Hà Nội.

1. Nỗi Đau Đất Nước Mất Mát Tự Do Và Tuổi Trẻ Bên Dòng Sông Lam
Vào cuối thế kỷ XIX, đất nước Việt Nam chìm trong đêm tối của ách đô hộ thực dân Pháp. Hàng loạt phong trào yêu nước nổ ra theo nhiều xu hướng khác nhau: từ phong trào Cần Vương mang ngọn cờ phong kiến của Cần Vương, Nguyễn Xuân溫, cho đến các phong trào cải cách, bạo động của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Yên Thế của Hoàng Hoa Thám... Tất cả đều tràn đầy khí tiết và lòng nhiệt huyết, nhưng rốt cuộc đều bị chính quyền colonial đàn áp dã man và chịu thất bại. Đất nước lâm vào khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.
Chính trong bối cảnh lịch sử bi thương ấy, ngày 19 tháng 5 năm 1890, tại làng Hoàng Trù và lớn lên ở làng Sen, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Sinh Cung đã cất tiếng khóc chào đời. Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, có cha là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và mẹ là bà Hoàng Thị Loan, ngay từ tuổi thơ, Nguyễn Tất Thành đã sớm tiếp thu truyền thống hiếu học, lòng nhân ái và tinh thần quật cường của vùng đất xứ Nghệ địa linh nhân kiệt.
Lớn lên, chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, nhân dân bị áp bức lầm than dưới gót giày xâm lược, Nguyễn Tất Thành đã sớm nuôi dưỡng hoài bảo cứu nước, cứu dân. Tuy nhiên, người thanh niên ấy không đi theo con đường của các vị tiền bối. Anh nhận thấy con đường xuất dương sang Nhật Bản theo phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu chẳng khác nào "đuổi hùm cửa trước, rinh cáo cửa sau"; con đường xin thực dân Pháp cải cách của cụ Phan Châu Trinh chẳng khác nào "xin giặc rủ lòng thương". Nguyễn Tất Thành quyết định phải tự mình đi ra thế giới, xem các nước phương Tây làm như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào mình.
2. Hành Trình Vạn Dặm Qua Bốn Biển Năm Châu (1911 – 1920)
Tháng 6 năm 1911, từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn), người thanh niên Nguyễn Tất Thành với tên gọi Văn Ba đã xin làm phụ bếp trên chiếc tàu buôn Amiral Latouche-Tréville, bắt đầu cuộc hành trình bôn ba khắp thế giới suốt gần 30 năm.
Chuyến đi đưa Anh qua nhiều đại dương, đặt chân lên các lục diễn từ Pháp, Anh, Mỹ đến các nước thuộc địa ở châu Phi, châu Mỹ Latinh. Anh đã phải làm đủ mọi nghề vất vả để kiếm sống: từ phụ bếp, cào tuyết, đốt lò, làm bánh, đến rửa ảnh, vẽ chao đèn... Nhưng trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào, tâm trí Anh vẫn luôn hướng về mục tiêu cứu nước.
Qua quan sát và trải nghiệm thực tế tại chính các quốc gia tư bản chủ nghĩa phát triển nhất, Nguyễn Tất Thành nhận ra rằng: ở đâu thực dân, đế quốc cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu người lao động cũng bị bóc xóc, áp bức. Anh rút ra luận điểm quan trọng: Nhân dân lao động ở các nước thuộc địa và giai cấp công nhân ở các nước chính quốc đều là bạn, còn chủ nghĩa đế quốc, thực dân ở đâu cũng là kẻ thù.
Năm 1919, thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Tất Thành lấy tên là Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Ver-sai (Versailles) Bản yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm, đòi chính quyền Pháp phải công nhận các quyền tự do, dân chủ và bình đẳng cho nhân dân Việt Nam. Mặc dù bản yêu sách không được hội nghị đế quốc chấp nhận, nhưng sự kiện này đã gây tiếng vang lớn, thức tỉnh tinh thần dân tộc và làm rạng danh tên tuổi Nguyễn Ái Quốc trong cộng đồng người Việt yêu nước.
Bước ngoặt quyết định trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc diễn ra vào tháng 7 năm 1920, khi Người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận đề về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin đăng trên báo L'Humanité (Nhân đạo). Luận đề của Lênin đã giải đáp đúng điều mà Nguyễn Ái Quốc đang tìm kiếm. Người cảm động đến phát khóc và reo lên: "Hỡi đồng bào bị đày đọa đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!".
Tháng 12 năm 1920, tại Đại hội Tour của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam.
3. Chuẩn Bị Về Tư Tưởng, Tổ Chức Và Sự Ra Đời Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Từ năm 1921 đến năm 1930, Nguyễn Ái Quốc hoạt động vô cùng sôi nổi tại Pháp, Liên Xô và Trung Quốc. Người sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa, xuất bản báo Le Paria (Người cùng khổ), viết tác phẩm nổi tiếng Bản án chế độ thực dân Pháp nhằm tố cáo tội ác của chủ nghĩa đế quốc và thức tỉnh nhân dân các nước thuộc địa.
Tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925), mở các lớp huấn luyện cán bộ, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Những hạt giống cách mạng do Người gieo mầm đã nhanh chóng lớn mạnh, dẫn đến sự xuất hiện của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam vào cuối năm 1929.
Nhận thức được nguy cơ chia rẽ do sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản trong nước (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn), với uy tín tuyệt đối và tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) từ ngày 6-1 đến đầu tháng 2 năm 1930.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3 tháng 2 năm 1930 cùng Chính cương tắt, Sách lược tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo đã chấm dứt cuộc khủng hoảng bế tắc về đường lối cứu nước kéo dài hàng thập kỷ, mở ra thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam.
4. Trở Về Căn Cứ Bắc Bó Và Lãnh Đạo Tổng Khởi Nghĩa Tháng Tám 1945
Ngày 28 tháng 1 năm 1941, sau 30 năm bôn ba khắp thế giới, Nguyễn Ái Quốc vượt qua mốc 108 biên giới Việt - Trung trở về cột mốc Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước. Giây phút Người cúi xuống hôn lên mảnh đất quê hương đã trở thành khoảnh khắc lịch sử thiêng liêng.
Tại Căn cứ Pác Bó, Người sống và làm việc trong hang đá kham khổ, ăn cơm rau rừng, dịch lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, soạn tài liệu huấn luyện. Tháng 5 năm 1941, Người chủ trì Hội nghị Lần thứ 8 của Trung ương Đảng, quyết định chuyển hướng chiến lược cách mạng: đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh), xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng.
Năm 1942, trên đường sang Trung Quốc tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế, Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ và giải đi qua hàng chục nhà tù tỉnh Quảng Tây. Trong suốt 14 tháng bị giam cầm đày đọa, Người đã sáng tác tập thơ Nhật ký trong tù – một tác phẩm văn học vô giá thể hiện tinh thần thép, chất trữ tình và phong thái ung dung của người chiến sĩ cộng sản.
Mùa hè năm 1945, thời cơ lịch sử xuất hiện khi Phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh. Dù đang ốm nặng tại lán Nà Nưa (Tuyên Quang), Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn kiên quyết khẳng định: "Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do, độc lập!".
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mặt trận Việt Minh đã phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Chỉ trong vòng hai tuần, nhân dân cả nước đã đồng loạt nổi dậy đập tan ách đô hộ của thực dân Pháp, phát xít Nhật và xóa bỏ chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trang trọng tuyên bố trước quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
5. Kháng Chiến Chống Thực Dân Pháp Và Chiến Thắng Điện Biên Phủ (1945 – 1954)
Ngay sau khi giành được độc lập, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đối mặt với vô vàn khó khăn hiểm nghèo: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm (quân Tưởng ở phía Bắc, quân Pháp quay lại ở phía Nam). Đứng trước tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh tài ba, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua ghềnh thác bằng các chính sách mềm dẻo, sáng suốt, chớp thời cơ để củng cố lực lượng.
Khi thực dân Pháp bội ước và bội đạn khiêu khích, ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến: "Chúng ta thà sinh hờn mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".
Người cùng Trung ương Đảng rút lên chiến khu Việt Bắc ("Thủ đô gió ngàn"), lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh. Với phong cách sống giản dị, chân thành, Người luôn gần gũi với bộ đội, thương yêu chiến sĩ và đồng bào. Hình ảnh Bác Hồ chống gậy lên chiến dịch, thức trắng đêm vì lo cho chiến dịch biên giới hay gửi từng chiếc áo ấm cho chiến sĩ ngoài mặt trận đã trở thành động lực tinh thần to lớn cho toàn quân, toàn dân.
Trải qua 9 năm kháng chiến gian khổ nhưng anh dũng, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu năm 1954, nhân dân ta đã buộc chính quyền Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh, khôi phục hòa bình và công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
6. Lãnh Đạo Xây Dựng Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Miền Bắc Và Đấu Tranh Thống Nhất Đất Nước (1954 – 1969)
Sau năm 1954, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn vững chắc. Miền Nam chịu sự can thiệp và xâm lược của đế quốc Mỹ, trở thành tiền tuyến lớn.
Trương trách nhiệm nặng nề của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đề ra hai chiến lược cách mạng song song: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và Đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Người luôn theo sát từng bước tiến của cách mạng miền Nam, dành tình cảm sâu nặng nhất cho đồng bào, chiến sĩ miền Nam ruột thịt. Người từng xúc động nói: "Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi".
Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc, ngày 17 tháng 7 năm 1966, Bác Hồ ra lời kêu gọi lịch sử thể hiện chân lý lớn nhất của đại dân tộc: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do!". Chân lý ấy đã trở thành động lực tinh thần vô giá, thôi thúc hàng triệu thanh niên Việt Nam "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước / Mà lòng phơi phới dậy tương lai".
7. Di Chúc Lịch Sử Và Tầm Vóc Trường Tồn
Những năm cuối đời, dù sức khỏe giảm sút, Bác Hồ vẫn dành thời gian, tâm huyết để viết bản Di chúc lịch sử – một di sản tinh thần vô giá để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trong Di chúc, Người dặn dò tỉ mỉ về công tác xây dựng Đảng, về chăm lo cho đời sống nhân dân, về sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ, về tình đoàn kết quốc tế và niềm tin sắt đá vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, để lại niềm thương tiếc vô hạn cho toàn thể dân tộc Việt Nam và bạn bè quốc tế. Dù Bác không kịp thấy ngày đất nước trọn niềm vui thống nhất vào mùa xuân năm 1975, nhưng con đường và tư tưởng của Người đã dẫn đường cho toàn dân tộc đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà lãnh đạo kiệt xuất mà còn là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư, khiêm tốn, giản dị và hết lòng yêu thương con người.
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh là "Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam". Tên tuổi, tư tưởng và sự nghiệp vĩ đại của Người mãi mãi trường tồn cùng lịch sử dân tộc Việt Nam và ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn bè thế giới.



