HỒ CHÍ MINH – HÀNH TRÌNH TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC VÀ TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
Sau 30 năm bôn ba khắp thế giới, Người tìm ra con đường cách mạng, lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công. Ngày 2/9/1945, Người đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sống thanh bạch, giản dị suốt đời vì dân tộc.
Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) – một buổi sáng nắng nhẹ, sông Sài Gòn xanh ngắt – một thanh niên với cái tên Văn Ba (tên gọi khi ấy của Nguyễn Tất Thành) bước lên con tàu Amiral Latouche Tréville với tư cách là người phụ bếp dưới tàu. Mang theo hai bàn tay trắng và một trái tim khao khát, anh rời Tổ quốc để bắt đầu một cuộc hành trình bôn ba khắp thế giới. Hơn 30 năm sau, anh sẽ trở về với tên gọi Hồ Chí Minh, đọc bản Tuyên ngôn khai sinh cho một nước Việt Nam tự do – nhưng khoảnh khắc ra đi hôm ấy, chẳng ai biết rằng một cuộc cách mạng vĩ đại đã bắt đầu từ một người thủy thủ vô danh.
Trong suốt 30 năm xa xứ, Nguyễn Tất Thành đã đến gần 30 quốc gia trên thế giới: Pháp, Anh, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, và các nước châu Phi. Người đã làm đủ mọi nghề để sống: phụ bếp, đốt lò, quét tuyết, làm vườn, rửa chén, bán báo, thậm chí có lúc phải xin ăn. Nhưng bất cứ nơi đâu, Người cũng quan sát, ghi chép, tìm hiểu về các cuộc cách mạng và đời sống của người lao động nghèo. Năm 1917, Người đến Pháp, tham gia hoạt động trong nhóm những người Việt yêu nước và đọc các tác phẩm về chủ nghĩa Marx-Lenin. Năm 1920, Người đọc bản "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa" của Lenin. Từ đó, như ngọn đèn bừng sáng trong bóng tối, Người tìm ra con đường cứu nước: độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Người về Trung Quốc, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, mở các lớp huấn luyện cán bộ tại Quảng Châu – nơi các thanh niên yêu nước Việt Nam như Lý Tự Trọng, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đến học và sau này trở thành những hạt nhân của cách mạng. Năm 1941, sau nhiều lần vượt biên, Người về nước tại Cao Bằng và đã triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, thành lập Mặt trận Việt Minh – tổ chức đoàn kết toàn dân chống Pháp và Nhật. Người lấy tên Hồ Chí Minh – "Hồ" là họ của người, "Chí Minh" là chí sáng – một cái tên giản dị nhưng mang trọn khát vọng soi sáng dân tộc. Từ chiến khu Việt Bắc, Người lãnh đạo phong trào, tuyên truyền, huấn luyện, xây dựng lực lượng và chờ thời cơ.
Tháng 8 năm 1945, phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh, chính quyền thân Nhật ở Đông Dương hoang mang. Hồ Chí Minh lập tức ra chỉ thị "Tổng khởi nghĩa". Từ các tỉnh, nhân dân đồng loạt đứng lên giành chính quyền. Chỉ trong vòng 10 ngày, cách mạng thành công khắp ba miền Bắc – Trung – Nam. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, trước hàng chục vạn đồng bào. Người mở đầu bằng những lời bất hủ: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc." Tiếp đó, Người khẳng định: "Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm, đã dũng cảm đứng về phe Đồng minh chống phát xít, thì dân tộc đó phải được tự do! Chúng tôi quyết giữ vững quyền tự do độc lập ấy."
Cuộc đời Hồ Chí Minh là một cuộc đời thanh bạch, giản dị: từ bỏ mọi đặc quyền, sống trong căn nhà sàn chật hẹp ở Phủ Chủ tịch, ăn cơm chấm muối vừng, đi dép cao su, đọc báo mỗi sáng. Nhưng trí tuệ và tình yêu thương vô bờ bến của Người đã để lại cho dân tộc một di sản vô giá: niềm tin vào sức mạnh của toàn dân và tư tưởng "không có gì quý hơn độc lập tự do". Người ra đi vào năm 1969, để lại niềm tiếc thương vô hạn. Mỗi dòng sông, ngọn núi, mỗi con đường ở Việt Nam đều in dấu bóng Người – vị cha già dân tộc đã dùng cả cuộc đời để thắp sáng ngọn đuốc tự do cho muôn đời sau.



