HỒ CHÍ MINH - Người chèo lái con thuyền độc lập và Anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại
KỂ VỀ DANH NHÂN LỊCH SỬ HỒ CHÍ MINH
Người chèo lái con thuyền độc lập và Anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại
Trong lịch sử thế kỷ XX, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa trên thế giới là một trong những trang sử tiến bộ và lay động lòng người nhất. Trong dòng chảy vĩ đại ấy, tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969) tỏa sáng như một biểu tượng của lòng quả cảm, ý chí kiên cường và tư tưởng nhân văn sâu sắc. Người không chỉ là vị lãnh tụ thiên tài, người cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam, mà còn là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới được toàn nhân loại kính cẩn nghiêng mình. Cả cuộc đời Người là một hành trình đại nghĩa thầm lặng nhưng bão táp, cống hiến trọn vẹn cho khát vọng độc lập, tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân.
Hồ Chí Minh sinh ra với tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung (sau này đổi là Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc), tại làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An – một vùng đất miền Trung nghèo khó nhưng giàu truyền thống yêu nước, hiếu học. Cha Người là cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, một nhà nho cấp tiến, yêu nước thương dân; mẹ là cụ bà Hoàng Thị Loan, người phụ nữ đảm đang, hiền hậu. Lớn lên trong bối cảnh nước nhà đã bị thực dân Pháp hoàn toàn đô hộ, từ thuở thiếu thời, Người đã tận mắt chứng kiến nỗi thống khổ, cay đắng của người dân mất nước dưới ách cai trị tàn bạo, cùng sự thất bại liên tiếp của các phong trào yêu nước đương thời của các bậc tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh. Sớm hun đúc một lòng yêu nước nồng nàn và tư duy độc lập, Người nhận ra rằng cần phải tìm một con đường mới, một hướng đi khác biệt để tự cứu lấy đồng bào mình.
Ngày 5 tháng 6 năm 1911, tại Bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn), người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành khi ấy mới 21 tuổi, với hai bàn tay trắng và một ý chí sắt đá, đã bước lên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville ra đi tìm đường cứu nước. Người chấp nhận làm phụ bếp, làm bồi bàn, quét tuyết, đốt lò... lao động cực nhọc để tự nuôi sống bản thân và bắt đầu cuộc hành trình bôn ba qua khắp các châu lục, từ châu Á, châu Âu, châu Phi cho đến châu Mỹ. Qua hơn 30 năm ròng rã, Người đi sâu vào cuộc sống của những người lao động nghèo khổ, nghiên cứu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới và nhận ra bản chất thực sự của chủ nghĩa thực dân. Giữa đêm trường tăm tối, bước ngoặt vĩ đại đã đến khi Người tiếp cận được Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Người đã khóc vì vui mừng và xúc động thốt lên: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!".
Từ đó, Người tích cực hoạt động, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân năm 1930 tại Hương Cảng (Trung Quốc), thống nhất các tổ chức cách mạng trong nước dưới một ngọn cờ duy nhất. Năm 1941, sau đúng 30 năm bôn ba hải ngoại, Người đặt bước chân thiêng liêng trở về cột mốc 108 tại Pác Bó (Cao Bằng), trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước. Tại hang đá Pác Bó lạnh giá, Người cùng các đồng chí nếm mật nằm gai, xây dựng căn cứ địa, thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam). Khi thời cơ chín muồi vào mùa thu năm 1945, dưới sự chèo lái thiên tài của Người, nhân dân cả nước đã đồng lòng đứng lên tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám thành công vang dội, đập tan xiềng xích thực dân phong kiến kéo dài hàng trăm năm.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước hàng vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam). Giọng nói ấm áp, truyền cảm và câu hỏi giản dị của Người: "Tôi nói đồng bào nghe rõ không?" đã kết nối triệu trái tim người Việt thành một khối thống nhất, vững chắc. Bản tuyên ngôn đanh thép khẳng định với toàn thế giới: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".
Thế nhưng, nền độc lập non trẻ vừa mới khai sinh lại phải đối mặt với muôn vàn thử thách, thù trong giặc ngoài, giặc đói, giặc dốt bủa vây. Với tư cách là vị Chủ tịch đầu tiên, Người đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua thác ghềnh một cách tài tình. Khi thực dân Pháp quay lại xâm lược, Người ra lời kêu gọi: "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Chín năm kháng chiến trường kỳ gian khổ kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm 1954 "chấn động địa cầu". Đất nước bị chia cắt, Người lại tiếp tục gánh vác sứ mệnh lãnh đạo nhân dân miền Bắc xây dựng cuộc sống mới, đồng thời là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất giang sơn bờ cõi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà chính trị lỗi lạc, mà còn là biểu tượng rực rỡ của lối sống giản dị, thanh cao và đạo đức trong sáng. Dù ở cương vị tối cao của một quốc gia, Người từ chối ở trong cung điện nguy nga, mà chọn sống và làm việc trong ngôi nhà sàn gỗ đơn sơ bên cạnh ao cá, vườn cây. Bộ quần áo kaki sờn bạc, đôi dép cao su giản dị của Người đã trở thành câu chuyện cảm động lưu truyền khắp năm châu. Cả cuộc đời Người không có một chút bận lòng cho riêng mình, mà dành trọn vẹn tình yêu thương cho đồng bào, chiến sĩ, từ cụ già đến những em nhỏ nhi đồng. Trước khi bước vào cuộc đại hành trình về với thế giới người hiền vào ngày 2 tháng 9 năm 1969, Người đã để lại bản Di chúc lịch sử chứa chan muôn vàn tình thân yêu cho toàn Đảng, toàn dân.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Người đi xa, nhưng di sản tư tưởng và nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên giá trị, là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường hội nhập và phát triển. Người đã để lại cho hậu thế một thời đại rực rỡ nhất – Thời đại Hồ Chí Minh. Tên tuổi của Người luôn sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam và là niềm tự hào kiêu hãnh của dòng máu Lạc Hồng trước bạn bè thế giới.



