Hồ Chí Minh, người kiến tạo mối quan hệ hữu nghị Việt – Trung
Hồ Chí Minh, người kiến tạo mối quan hệ hữu nghị Việt – Trung
Xuất phát từ các yếu tố địa chính trị, lịch sử, tư tưởng và chiến lược cách mạng, trong tư duy đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan hệ với Trung Quốc giữ vị trí trung tâm trong tổng thể các mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Đó cũng là truyền thống “Bán anh em xa mua láng giềng gần” của dân tộc. Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có “sơn thủy tương liên, lý tưởng tương thông, văn hóa tương đồng, vận mệnh tương quan”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận thấy rằng việc duy trì quan hệ hữu nghị với Trung Quốc là điều kiện quan trọng để bảo đảm môi trường hòa bình, an ninh và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc.
Thời kỳ 1920 – 1945
Đây là thời kỳ hình thành và phát triển nền tảng đầu tiên của mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc hiện đại. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX tại thủ đô Pari, người thanh niên yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gặp gỡ và kết thân với những nhà cách mạng Trung Quốc như: Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân, Triệu Thế Viên, Đặng Tiểu Bình… Cùng chung chí hướng giải phóng dân tộc, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp cho nhân dân Việt Nam và Trung Quốc, các nhà cách mạng trẻ tuổi của hai nước đã gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau trên đường tranh đấu. Đây là một tiền đề để Hồ Chí Minh gắn bó với cách mạng Trung Quốc. Trong thời gian hoạt động tại Pari, Người đã giới thiệu 5 thanh niên Trung Quốc vào Đảng Cộng sản Pháp. Đây có thể nói là một công lao rất to lớn, góp phần xây dựng và tăng cường sự đoàn kết của giai cấp vô sản quốc tế.
Đi nhiều nơi, làm nhiều việc, nhận thức được nhiều điều và từ khi đến Trung Quốc, Hồ Chí Minh thấy rằng Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam. Trung Quốc không chỉ là nước láng giềng “núi liền núi, sông liền sông”, nhân dân hai nước đều chịu cảnh bị thực dân đô hộ và áp bức, do đó có cùng mục tiêu, con đường và lý tưởng đấu tranh. Người luôn khai thác, phát huy các điểm tương đồng, những lợi ích chung trong quan hệ giữa hai Đảng và nhân dân hai nước. Trong đó lợi ích cốt lõi là nhân dân có cuộc sống hạnh phúc, trong một môi trường hòa bình, hữu nghị. Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên tới Trung Quốc, làm phiên dịch viên trong phái bộ cố vấn Liên Xô Borodin bên cạnh Chính phủ Tôn Trung Sơn tại Quảng Châu.
Người đã tham gia dịch tài liệu nội bộ và “tuyên truyền đối ngoại”, viết bài về phong trào công, nông đang phát triển mạnh ở Trung Quốc. Người đã cùng giai cấp công nhân Trung Quốc kề vai chiến đấu. Khi hàng chục nghìn công nhân Quảng Châu tổ chức bãi công chống lại chủ nghĩa thực dân, Người nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc.
Khi đó Người đã chủ động đến nơi các công nhân đang tập trung để diễn thuyết, giảng giải bằng cả tiếng phổ thông lẫn tiếng Quảng Đông nhằm cổ vũ và khích lệ những người công nhân kiên cường đấu tranh giành thắng lợi.
Trong thời gian làm việc tại Quảng Châu, Hồ Chí Minh nhận thấy đây là “trung tâm của phong trào cách mạng Á Đông”, nơi hội tụ của nhiều trào lưu tiến bộ, là môi trường thuận lợi để tuyên truyền, tổ chức và đào tạo lực lượng cách mạng Việt Nam. Người đã sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên (1925), đào tạo lớp cán bộ đầu tiên cho cách mạng Việt Nam, đồng thời mở rộng giao lưu với các tổ chức cách mạng Trung Quốc. Phong cách ngoại giao của Người trong thời kỳ này thể hiện rõ tinh thần chủ động, mềm dẻo và khéo léo kết hợp giữa “tình đồng chí” và “tình láng giềng”, đặt nền móng cho sự giao lưu, hiểu biết lẫn nhau giữa hai phong trào cách mạng Việt – Trung.
Giai đoạn 1938 – 1945, trở lại Trung Quốc, Hồ Chí Minh tiếp tục vận dụng phong cách ngoại giao linh hoạt trong hoạt động thực tiễn tại đây. Cuối năm 1938, lấy bí danh là Hồ Quang, với tư cách là quân nhân của Bát Lộ quân Người đã cùng với Diệp Kiếm Anh rời Diên An xuống Quế Lâm trong điều kiện cuộc chiến tranh Trung Nhật đang mở rộng và nhân dân Trung Quốc đã giành được thắng lợi đầu tiên trong trận Bình Hình quan (ải Bình Hình), tỉnh Sơn Tây. Đặc biệt, Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian này còn tham gia công tác trong một chi bộ Đảng Cộng sản ở Quế Lâm, làm Phó Chủ nhiệm của tờ báo “Cứu vong Nhật báo”. Tháng 5 – 1940, Hồ Chí Minh quyết định cho rải truyền đơn dọc tuyến đường sắt từ Côn Minh đến biên giới Việt – Trung, vạch trần tội ác của giặc Pháp, giặc Nhật và kêu gọi quần chúng ủng hộ nhân dân Trung Quốc chống Nhật. Có thể nói, trong những thời khắc mang tính then chốt của cuộc đấu tranh cách mạng, Hồ Chí Minh đều ở bên cạnh Đảng Cộng sản Trung Quốc, đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của Trung Quốc, cùng với các vị lãnh đạo tiền bối Trung Hoa xây đắp nên tình hữu nghị Việt – Trung mới về chất, phù hợp với xu thế thời đại trên cơ sở kế thừa truyền thống hữu nghị lâu đời của hai dân tộc và tư tưởng đoàn kết quốc tế của Người.
Như vậy, thời kỳ 1920 – 1945 là thời kỳ Hồ Chí Minh đặt nền móng cho quan hệ đặc thù Việt Nam – Trung Quốc: vừa hợp tác, vừa độc lập, dựa trên sự hiểu biết, tôn trọng và tin cậy lẫn nhau. Nhờ đó, không chỉ giúp cách mạng Việt Nam vượt qua giai đoạn khó khăn mà Trung Quốc còn trở thành hậu phương chiến lược, ủng hộ, trợ giúp để Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chuẩn bị về lực lượng và đường lối cho Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thời kỳ tiếp theo.
Thời kỳ 1945 – 1954
Đây là thời kỳ Việt Nam vừa giành được độc lập sau Cách mạng Tháng Tám 1945, phải đối mặt với muôn vàn khó khăn: thù trong giặc ngoài, chính quyền non trẻ, kinh tế kiệt quệ, không có đồng minh, không có viện trợ, không đường liên hệ với nước ngoài, không có giao dịch quốc tế. Trong bối cảnh ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện phong cách ngoại giao kiên định về nguyên tắc, mềm dẻo trong phương pháp, khéo léo xử lý mối quan hệ với các nước lớn, đặc biệt là với Trung Quốc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng bảo vệ nền độc lập dân tộc không thể tách rời việc thiết lập và duy trì quan hệ hòa hiếu với các nước láng giềng, đặc biệt là Trung Quốc. Khi Tưởng Giới Thạch lấy danh nghĩa giải giáp quân Nhật để kéo quân vào miền Bắc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã vận dụng phong cách ngoại giao mềm dẻo, tỉnh táo, kết hợp giữa kiên định mục tiêu và linh hoạt sách lược, nhằm hạn chế tối đa xung đột, bảo toàn lực lượng cách mạng non trẻ. Người chủ trương “dĩ bất biến ứng vạn biến”, giữ vững độc lập dân tộc nhưng vẫn tranh thủ được sự hợp tác tạm thời của lực lượng Trung Hoa Dân quốc, đồng thời tận dụng cơ hội để củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng kháng chiến lâu dài. Đây là một minh chứng sinh động cho phong cách ngoại giao khôn khéo, nhân văn và thực tiễn của Hồ Chí Minh – biết chọn giải pháp hòa hoãn để đạt mục tiêu chiến lược.
Ngày 01-10-1949 nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời. Thắng lợi vĩ đại của cách mạng Trung Quốc đã làm nghiêng cán cân lực lượng quốc tế về phía các lực lượng hòa bình và tiến bộ. Trước tình hình đó, với sự nhạy bén, linh hoạt, Hồ Chí Minh nhanh chóng nắm bắt thời cơ để nâng tầm mối quan hệ Việt – Trung lên một bước phát triển mới, từ láng giềng hữu nghị sang đồng chí, anh em trên cùng mặt trận cách mạng quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của Người, Việt Nam chủ động thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Quốc vào ngày 18-01-1950. Sự kiện Trung Quốc là nước đầu tiên công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một đòn nặng giáng vào thực dân Pháp xâm lược cùng bọn phản động trong nước. Sự kiện này cũng mở ra kỉ nguyên ngoại giao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thể hiện tầm nhìn chiến lược và nghệ thuật vận dụng chính sách đối ngoại chủ động, sáng suốt của Hồ Chí Minh.
Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954), phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh đối với Trung Quốc được thể hiện rõ qua ba đặc trưng nổi bật: chân thành, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau. Người luôn coi trọng việc xây dựng mối quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với Trung Quốc. Trên cơ sở đó, Việt Nam nhận được sự giúp đỡ to lớn của Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc về nhiều mặt: viện trợ quân sự, huấn luyện cán bộ, cung cấp hậu cần, hỗ trợ ngoại giao và tuyên truyền quốc tế. Dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, đường lối ngoại giao Việt Nam thể hiện sự thống nhất giữa độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế, không phụ thuộc hoàn toàn vào bên ngoài nhưng biết tận dụng tối đa sức mạnh của bạn bè xã hội chủ nghĩa. Phong cách ngoại giao ấy đã giúp Việt Nam giữ vững thế chủ động trong quan hệ với Trung Quốc, đồng thời củng cố lòng tin chiến lược giữa hai Đảng, hai Nhà nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Như vậy, với phong cách ngoại giao linh hoạt, uyên bác và rất mực chân thành của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam đã phá vỡ được thế bao vây cô lập của kẻ thù, có nhiều đồng minh quan trọng, mở rộng ngoại giao với nhiều nước trên thế giới, chấm dứt thời kì “chiến đấu trong vòng vây”. Nhờ phong cách ấy, Hồ Chí Minh không chỉ đưa quan hệ Việt – Trung phát triển từ láng giềng thành đồng chí, từ hỗ trợ chiến thuật thành hợp tác chiến lược, mà còn góp phần khẳng định vai trò, vị thế của Việt Nam trong phong trào cách mạng quốc tế.
Thời kỳ 1954 – 1969
Mặc dù đã đạt được những thành công lớn ở Hội nghị Genève, nhưng nền ngoại giao Việt Nam lúc này còn non trẻ. Về mặt quan hệ ngoại giao nhà nước, cho đến năm 1954, Việt Nam mới chỉ được các nước trong phe Xã hội Chủ nghĩa công nhận và đặt quan hệ ngoại giao chính thức. Vì vậy, việc xác lập những nguyên tắc và chính sách đối ngoại mới là điều kiện tiên quyết phá vỡ thế cô lập, mở rộng quan hệ ngoại giao khu vực và quốc tế.
Giai đoạn 1954 – 1969 là thời kỳ đặc biệt trong sự nghiệp cách mạng và hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời cũng là giai đoạn phát triển sâu sắc trong quan hệ Việt -Trung. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève năm 1954, Việt Nam tạm thời chia cắt hai miền, thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện phong cách ngoại giao mẫu mực, kết hợp hài hòa giữa kiên định nguyên tắc và linh hoạt sách lược, nhằm củng cố quan hệ hữu nghị với Trung Quốc, tranh thủ sự giúp đỡ toàn diện của nước bạn, đồng thời giữ vững độc lập, tự chủ và lợi ích dân tộc.
Chúng ta không phủ nhận nỗ lực phấn đấu quên mình của quân và dân ta trên khắp các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng. Chúng ta cũng luôn xác định tinh thần tự lực cánh sinh là chính, song phải thừa nhận rằng chủ trương “dùng ngoại giao làm đòn đột phá” để tìm kiếm nguồn “ngoại lực” cho công cuộc tái thiết đất nước là bước đi đúng đắn và sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ý thức được tầm quan trọng của vấn đề này, trong các cuộc tiếp xúc ngoại giao với Trung Quốc, Người luôn nhấn mạnh tinh thần “vừa là đồng chí, vừa là anh em”, coi đây là sợi dây xuyên suốt định hướng cho quan hệ hai nước. Phong cách ngoại giao của Hồ Chí Minh trong giai đoạn này được thể hiện nổi bật qua ba phương diện: chân thành trong quan hệ, linh hoạt trong phương pháp và kiên định trong nguyên tắc. Trước hết, Hồ Chí Minh luôn thể hiện sự chân thành và tin cậy chính trị đối với các nhà lãnh đạo Trung Quốc.
Các chuyến thăm chính thức của Người tới Trung Quốc vào những năm 1955, 1959, 1961, 1963, 1966… là những mốc quan trọng, khẳng định mối quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước. Trong các cuộc gặp với các nhà lãnh đạo Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Hồ Chí Minh luôn thể hiện tinh thần tôn trọng lẫn nhau, lấy nghĩa tình làm nền tảng. Ngoài các cuộc viếng thăm chính thức bằng trao đổi thư, điện… Người còn trực tiếp sang Trung Quốc với danh nghĩa là “đi nghỉ” để đàm đạo với các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Đây là hình thức ngoại giao đặc biệt, lấy tình bạn, tình đồng chí thân thiết và mối quan hệ cá nhân để tỏ lòng tin cậy của nhân dân Việt Nam đối với Trung Quốc. Người luôn coi trọng việc củng cố tình đoàn kết, tránh để những khác biệt chiến lược hay quan điểm quốc tế ảnh hưởng tới đại cục quan hệ hữu nghị Việt – Trung, giúp duy trì được niềm tin chính trị giữa hai bên trong bối cảnh quốc tế đầy biến động.
Thứ hai, Hồ Chí Minh thể hiện sự linh hoạt và sáng suốt trong điều hành chính sách ngoại giao. Bối cảnh cuối thập niên 1950 đầu 1960 chứng kiến quan hệ Trung – Xô có những bất đồng về mặt quan điểm, khiến tình hình phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới trở nên phức tạp. Trong hoàn cảnh đó, Hồ Chí Minh chủ trương giữ thái độ trung lập, không đứng về phía nào, đồng thời kiên trì nguyên tắc độc lập, tự chủ trong đường lối đối ngoại.
Người chỉ đạo Việt Nam vừa duy trì quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với Trung Quốc, vừa củng cố quan hệ với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Chính sự tỉnh táo và bản lĩnh đó đã giúp Việt Nam không bị cuốn vào những mâu thuẫn nội bộ giữa các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời tiếp tục nhận được sự ủng hộ thiết thực từ cả hai phía cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh vì thế thể hiện tư duy cân bằng, mềm dẻo nhưng kiên định, linh hoạt mà vẫn giữ vững chủ quyền dân tộc.
Thứ ba, trong quan hệ với Trung Quốc, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng yếu tố nhân dân và văn hóa trong ngoại giao. Người không chỉ giới hạn mối quan hệ ở tầm lãnh đạo cấp cao, mà còn chú trọng mở rộng giao lưu nhân dân, văn hóa, khoa học và giáo dục. Dưới sự chỉ đạo của Người, nhiều đoàn đại biểu nhân dân, thanh niên, văn nghệ sĩ Việt Nam được cử sang thăm và học tập tại Trung Quốc, đồng thời trong thời gian này, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đón tiếp 186 đoàn khách Trung Quốc sang thăm Việt Nam. Hồ Chí Minh quan niệm rằng “ngoại giao nhân dân” là cầu nối bền vững, góp phần tăng cường hiểu biết và tình cảm giữa hai dân tộc. Đây là biểu hiện rõ nét của phong cách ngoại giao nhân văn, thấm đượm bản sắc văn hóa phương Đông, coi trọng tình nghĩa hơn lợi ích vật chất.
Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng thể hiện bản lĩnh ngoại giao kiên định và chủ quyền quốc gia trong quan hệ Việt – Trung. Dù luôn đề cao tình đoàn kết, Người vẫn giữ vững nguyên tắc “độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường”. Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, thể hiện rõ lập trường không để bất kỳ mối quan hệ quốc tế nào, dù thân thiết đến đâu, làm tổn hại lợi ích dân tộc.
Trong các vấn đề chiến lược như viện trợ, chỉ huy quân sự, hay tham gia Hội nghị quốc tế, Hồ Chí Minh luôn thể hiện lập trường của Việt Nam một cách bình đẳng, tôn trọng và tự tin. Đây chính là một trong những giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại.
Giai đoạn 1954 – 1969 là thời kỳ Chủ tịch Hồ Chí Minh phát huy cao độ phong cách ngoại giao đặc sắc trong quan hệ Việt – Trung: chân thành, khiêm tốn nhưng kiên định; mềm dẻo nhưng nguyên tắc; gắn bó hữu nghị nhưng giữ vững tự chủ. Chính phong cách đó không chỉ giúp duy trì mối quan hệ chiến lược Việt – Trung trong bối cảnh thế giới đầy biến động, mà còn trở thành bài học quý báu cho công tác đối ngoại Việt Nam hiện nay – kết hợp hài hòa giữa tình hữu nghị truyền thống và lợi ích dân tộc, giữa tinh thần quốc tế và chủ quyền quốc gia.
Như vậy, bằng nhãn quan chính trị nhạy bén, tư duy phân tích thời thế khoa học, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện vai trò của mình trong hoạt động đối ngoại với các nước trên thế giới nói chung và Trung Quốc nói riêng. Sau khi Trung Quốc đặt quan hệ ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước vun đắp cho mối tình đoàn kết ấy. Mặc dù quan hệ giữa hai nước có những bước thăng trầm, nhưng với đường lối ngoại giao khéo léo, mềm dẻo, đề cao tinh thần yêu chuộng hòa bình thế giới, quan hệ Việt – Trung ngày càng được vun đắp và bền vững.
Trong bối cảnh mới hiện nay, khi môi trường quốc tế có nhiều biến động, việc vận dụng phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh càng có giá trị thực tiễn sâu sắc, giúp Việt Nam vừa bảo vệ lợi ích quốc gia, vừa mở rộng hợp tác, hội nhập và củng cố mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác bền vững với Trung Quốc. Đó không chỉ là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng và phương pháp, mà còn là sự khẳng định bản lĩnh đối ngoại của Việt Nam – một nền ngoại giao “cây tre Việt Nam”: gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển – kế thừa tinh hoa Hồ Chí Minh và phát triển phù hợp với thời đại mới.



