Hồ Chí Minh - Người thắp sáng con đường độc lập
Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890–1969), tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam và là người đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Từ khi ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, Người đã trải qua nhiều năm hoạt động ở nước ngoài, tìm hiểu các phong trào cách mạng và từng bước xác định con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Năm 1930, Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đặt nền móng quan trọng cho cách mạng Việt Nam. Năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Người và Đảng, Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Trong những năm kháng chiến gian khổ, Bác luôn là biểu tượng của ý chí, niềm tin và tinh thần đoàn kết dân tộc. Không chỉ là một nhà lãnh đạo kiệt xuất, Hồ Chí Minh còn được biết đến với lối sống giản dị, gần gũi, lòng yêu thương nhân dân và đức tính cần, kiệm, liêm, chính. Dù Người đã đi xa, tư tưởng, đạo đức và tấm gương của Bác vẫn luôn là nguồn cảm hứng, nhắc nhở các thế hệ hôm nay sống có trách nhiệm, biết yêu quê hương, trân trọng hòa bình và không ngừng cố gắng vì đất nước.

Trong dòng chảy hàng nghìn năm của lịch sử dân tộc, có những sự kiện đã trở thành bước ngoặt vĩ đại, thay đổi hoàn toàn vận mệnh của cả một đất nước. Một trong những khoảnh khắc thiêng liêng ấy chính là ngày 5 tháng 6 năm 1911, khi người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Nhà Rồng, bắt đầu hành trình gian nan tìm đường cứu nước.
Đầu thế kỷ XX, Việt Nam chìm trong đêm trường nô lệ dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Chứng kiến cảnh lầm than của nhân dân và sự thất bại của các bậc tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã sớm nung nấu một ý chí mãnh liệt: phải tìm ra một con đường mới, một hướng đi đúng đắn để giành lại độc lập cho Tổ quốc. Với tâm thế đó, anh đã vào Sài Gòn - nơi sầm uất nhất lúc bấy giờ - để tìm cơ hội ra nước ngoài.
Ngày 5/6/1911, trên con tàu Amiral Latouche Tréville, từ cảng Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc, bắt đầu cuộc hành trình 30 năm tìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Vào thời điểm đó, không ai biết rằng vận mệnh của dân tộc Việt Nam đã gắn liền với quyết định ra đi của một con người mà lịch sử đã chứng tỏ là sáng suốt, phi thường ấy.

Chính chủ nghĩa yêu nước cùng với những năm tháng tìm tòi không mệt mỏi về lý luận và hoạt động trong phong trào công nhân quốc tế, người thanh niên Việt Nam Nguyễn Tất Thành bất chấp mọi hiểm nguy, đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành nhà hoạt động quốc tế xuất sắc Nguyễn Ái Quốc.
Sống hòa mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Tất Thành say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người

Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tìm thấy ở đó ánh sáng chân lý của thời đại, con đường giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Người đã rút ra kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” và “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Người đã xác định đúng mục tiêu, con đường, lực lượng tham gia, lực lượng lãnh đạo, phương pháp cách mạng và tích cực chuẩn bị mọi mặt cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng ở Việt Nam.
Ngày 3/2/1930, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, tại Hương Cảng (Trung Quốc), hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản đã nhất trí thành lập một đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là sự kiện lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối chính trị và về tổ chức của các phong trào yêu nước Việt Nam, trở thành một bước ngoặt quyết định của lịch sử cách mạng Việt Nam.

Sau hơn 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Tháng 5/1941, Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương 8. Hội nghị đã xác định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tổ chức vận động, tập hợp lực lượng toàn dân tộc; thành lập Mặt trận Việt Minh; tiến hành xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa, tạo nên các cao trào cách mạng sôi nổi, mạnh mẽ trên phạm vi cả nước. Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân ta đã tiến hành 2 cuộc kháng chiến thần thánh đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên CNXH, thực hiện công cuộc đổi mới.
115 năm đã trôi qua, hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành đã trở thành dấu mốc lịch sử mở ra bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tinh thần của hành trình ấy tiếp tục được kế thừa và phát huy, trở thành nguồn động lực để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.
Đó cũng là sự tri ân thiết thực và sâu sắc nhất đối với công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài, người đã hiến dâng trọn đời mình cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân.



