HỒ CHÍ MINH- TẤM GƯƠNG SÁNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
HỒ CHÍ MINH- TẤM GƯƠNG SÁNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
I-HÀNH TRÌNH TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC
Trước bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, đời sống nhân dân lầm than, cơ cực, các phong trào yêu nước trước đó nổ ra nhưng đều bị thất bại và không tìm được lối thoát. Điều này thôi thúc người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, đi tìm giá trị thật của cái mới ‘ tự do - bình đẳng – bắc ái’’ và những gì ẩn sau khẩu hiệu đó. Người đi qua rất nhiều nơi trên thế giới và ngày càng trưởng thành trong nhận thức và hành động.
-1911-1917, Người lấy tên là Nguyễn Văn Ba và đi qua nhiều nước châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và rút ra kết luận ở đâu nhân dân lao động cũng bạn, ở đâu Chủ Nghĩa Đế Quốc cũng là kẻ thù.
-1917, dưới tác động của Cách mạng tháng Mười Nga, Người về Pháp hoạt động, gia nhập Đảng Xã hội Pháp- tổ chức chính trị duy nhất ở Pháp theo đuổi lý tưởng ‘Tự do, Bình đẳng, Bác ái’’ và đấu tranh vì quyền lợi của các nước thuộc địa.
-6/1919, Nguyễn Ái Quốc thay mặt nhân dân An Nam gửi Bản yêu sách 8 điểm đến Hội nghị Véc xai đòi Chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do, dân chủ, bình đẳng và tự quyết của dân tộc Việt Nam nhưng không được chấp nhận.
-7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về tộc và thuộc địa của Lê nin đăng trên báo Nhân đạo. Luận cương đã giúp người khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc,không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản.
-12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội Đảng Xã hội Pháo ở Tua, bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản, tham gia sáng lập Đảng cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu chuyển biến về chất, là bước ngoặt trong quá trình hoạt động của Người: từ người yêu nước trở thành chiến sĩ cộng sản. Bước đầu giải quyết tình trạng khủng hoảng về đương lối cách mạng Việt Nam.
II. CHUẨN BỊ VÀ THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (1921 – 1930)
Chuẩn bị các điều kiện cho sự ra đời của Đảng (1921-1930)
Chuẩn bị về tư tưởng chính trị
- Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lên nin vào hoàn cảnh cụ thể ở một nước thuộc địa, xây dựng lí luận cách mạng giải phóng dân tộc kết hợp với giải phóng giai cấp phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Nội dung của lí luận cách mạng giải phóng dân tộc do Nguyễn Ái Quốc xây dựng về sau được thể hiện trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của ĐCSVN (đầu năm 1930).
- Người là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Người cùng khổ (1922), viết bào cho các báo Nhân đạo, Đời sông công nhân, Sự thật, Cộng sản... Viêt tác phâm Bản án chê độ thực dân Pháp (1925). Sáng lập báo Thanh niên (1925), xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh (1927)... Nội dung các bài viết, tác phầm đã tích cực tố cáo bản chất áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân với nhân dẫn các nước thuộc địa, kêu gọi nhân dân các nước thuộc địa đứng lên đâu tranh.
Chuẩn bị về tổ chức
-Xây dựng mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới: hoạt động trong ĐCS Pháp, thành lập Hội liên hiệp thuộc địa (1921), hoạt động ở Liên Xô và Quốc tế Cộng sản...
Trực tiếp lãnh đạo cách mạng tháng Tám và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
- Hồ Chí Minh phân tích tình hình và nắm bắt chính xác thời cơ Tổng khởi nghĩa. Khi nhận thấy thuận lợi khách quan và những nhân tố chủ quan hội đủ, Hồ Chí Minh đã khẳng định:
"Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết gianh cho được độc lập".
- 13/8/1945, thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc và ra Quân lệnh số 1, chính thức phát động Tổng khởi nghĩa.
- 14 -> 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp và quyết định: Thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa.
- 16 -> 17/8/1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào quyết định: tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh, của ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hô Chí Minh làm Chủ tịch.
- 2/9/1945, Hô Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc Lập khai sinh
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chấm dứt thể chế quân chủ chuyên chế và chế độ thực dân áp bức. Mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên dân chủ cộng hòa. Đây là đỉnh cao của cách mạng tháng Tám.
IV. LÃNH ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 - 1954)
Trong những năm 1945 – 1946
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, ta đã giành được chính quyền, nhân dân được làm .chủ nhưng đất nước rơi vào tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm và nội phản... Chưa có một nước nào công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hô Chí Minh đề ra nhiều chính sách, biện pháp trên các lĩnh vực để đưa cách mạng Việt Nam vượt qua nhiêu khó khăn, thử thách.
Về chính trị
- 0/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội được tổ chức trong cả nước, tạo cơ sở phảp lí cho chính quyền cách mạng, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
- 9/11/1946, Hiến pháp đầu tiền của nước Việt Nam DCCH được ban hành, tạo nền tảng đầu tiên cho quá trình lập pháp của nhà nước Việt Nam mới.
b. Giải quyết nạn đói
Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân cả nước thực hiện "nhường cơm xẻ áo", "ngày đông tâm" ... kêu gọi nhân dân khai khẩn đất hoang.... Nạn đói từng bước được đây lùi, đời sông vật chất của người dân được đảm bảo.
Giải quyết khó khăn về tài chính
- Người kêu gọi tinh thần đóng góp tự nguyện của nhân dân, xây dựng "quỹ độc lập", "tuần lễ vàng"…
- Chính phủ cho lưu hành tiền Việt Nam thay cho tiền Đông Dương.
-> Bước đâu xây dựng nên tài chính độc lập của nước Việt Nam mới, làm thất bại âm mưu phá rối nền tài chính nước ta của các thế lực ngoại xâm.
Giải quyết nạn dốt
8/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ - cơ quan chuyên trách chống "giặc dốt" và phát động phong trào Bình dân học vụ để xóa nạ mù chữ. Nền giáo dục của chê độ mới đã bước đầu hình thành, góp phần xóa bỏ những tàn dư của nền giáo dục thực dân phong kiến.
Về đối ngoại
- Từng bước giải quyết mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Hoa Dân quốc và Việt - Pháp với phương châm: Tránh đối phó cùng lúc với nhiều kẻ thù.
- Từ tháng 9/1945 đến 3/1946, hòa hoãn, nhân nhượng với Trung Hoa Dân quốc để tập trung lực lượng đánh Pháp ở Nam Bộ.
- 6/3/1946 đến tháng 12/1946, kí với đại diện chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và bản Tạm ước 14/9/1946, thực hiện chủ trương hòa với Pháp để đẩy nhanh quân Trung Hoa Dân quốc về nước, giảm bớt gánh nặng cho cách mạng và chuẩn bị lực lượng cho kháng chiến.
- Khi những nỗ lực hòa bình của Việt Nam không đạt được kết quả, tối ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hô Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
→> Trong giai đoạn 1945 - 1946, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những chủ trương quan trọng và đúng đắn để xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn. Từng bước đưa đất nước thoát khỏi những khó khăn, tránh cùng lúc đôi đâu với nhiêu kẻ thù, tạo ra sức mạnh tông hợp để bảo vệ chế độ mới. Góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
- Về đường lối: Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng hoạch định đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp với nội dung: toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực cánh sinh, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Đường lối trở thành ngọn cờ soi đường, động viên toàn Đảng, toàn dân Việt Nam đúng lên. Đường lối đưa cuộc kháng chiến phát triển đúng hướng và từng bước đi tới thắng lợi.
- Về Đảng: Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng (2/1951) - Đại hội kháng chiến thắng lợi. Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai, lấy tên là
Đang Lao động Việt Nam. Đại hội Đại biêu Toàn quốc lần thứ II của Đảng đánh dâu bước phát triển mới của Đảng, tạo niềm tin cho nhân dân, đề ra nhiệm vụ gây dựng cơ sở của chế độ mới, tạo tiền đề tiến lên CNXH:
- Về xây dựng hậu phương: Chủ tịch HCM tham gia xây dựng hệ thống chính quyền
DCND, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng và phát triền lực lượng vũ trang ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội đia phương và dân quân du kích). Xây dựng hậu phương từng bước vững manh về mọi mặt.
- Về ngoại giao: Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao với Pháp, với các nước Đông Dương. Chủ động thiết lập và mở rộng quan hệ ngoại giao với Liên Xò, Trung Quốc... Góp phần đưa ngoại giao trở thành một mặt trận quan trọng trong cuộc
Kháng chiến toàn diện. Tạo ra sự ủng hộ quý báu của các nước XHCN và nhân dân tiến bộ thế giới đối với cách mạng Việt Nam.
- Về quân sự: Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia họp bàn và chỉ đạo các chiến dịch quan trọng như cuộc chiến đấu trong các đô thị Bắc vĩ tuyến 16 (1946 - 1947), Chiến dịch Việt Bắc Thu Đông đển hiếng địc Đện giới Thu - Đông (1950)… Góp phần đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng.
V. LÃNH ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975)
Chỉ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
- Người chủ trì Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (9/1960).
ĐH là nguồn ánh sáng mới cho toàn Đảng, toàn dân để thực hiện nhiệm vụ chính trị đã đề ra.
- Chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm xây dựng CNXH (1961 - 1965). Công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc đã đạt những kết quả quan trọng, góp phần nâng cao đời sông vật chất và tinh thần của nhân dân.
- Chỉ đạo chống chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất (1964 - 1968). Ngày 1/11/1968, Tổng thống Mỹ tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc, miền Bắc vẫn đảm bảo sản xuất, giao thông vận tải thông suốt.
- Chỉ đạo hậu phương miên Bắc vững mạnh, thực hiện chi viện cho tiên tuyên miên Nam. Góp phần to lớn vào thăng lợi của quân dân miền Nam trong chiến đấu chống chiến lược Chiến tranh cục bộ.
2. Chỉ đạo sự nghiệp đấu tranh chống Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam
- Chú tri Hội nghị lân thứ 15 BCH Trung ương Đảng (1/1959) xác định phương hướng cơ bản cho cách mạng miên Nam. Đây là ngọn đuôc soi đường cho cách mạng miên Nam trong giai đoạn khó khăn, thử thách, góp phần tạo nên thăng lợi của phong trào Đông Khởi.
- Chỉ đạo nhân dân miền Nam chiên đâu chống Chiến lược Chiến tranh đặc biệt (1961 -
1965). Trung ương Đảng và Chủ tịch Hô Chí Minh đã chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng từ đấu tranh chính trị sang đâu tranh kêt hợp đâu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang.
Lẩy đấu tranh vũ trang là quyết định, tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng của sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời đại, có vai trò to lớn trong đâu tranh ngoại giao.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đại đoàn kêt dân tộc là chiên lược của cách mạng. Người cùng với Trung ương Đảng chỉ đạo thành lập Mặt trận Tô quôc Việt Nam (1955) ở miền Bắc và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1960) đề tập hợp các tầng lớp nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội tiến bộ và người Việt Nam đứng lên cùng chống Mỹ cứu nước.
- Trong quá trình kháng chiến, nhân dân Việt Nam đã mở rộng tình đoàn kết quốc tế với các nước, các lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Chính vì vậy, nhân dân Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn cả về vật chất và tinh thần. Góp phần quan trọng thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi.



