Bài viết

Hồ Chí Minh – Từ người phụ bếp năm 1911 đến hành trình tìm đường cho dân tộc

Khởi đầu bằng công việc phụ bếp trên con tàu rời Sài Gòn năm 1911, hành trình của Nguyễn Tất Thành cho thấy lòng yêu nước được bồi đắp qua lao động, học hỏi và sự gắn bó với con người.

28/10/2026Trịnh Sơn Tùng (Đại học Bách Khoa Hà Nội)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Hồ Chí Minh – Từ người phụ bếp năm 1911 đến hành trình tìm đường cho dân tộc

Giữa những hình ảnh gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh, có một hình ảnh luôn gợi nhiều suy nghĩ: người thanh niên rời bến cảng Sài Gòn với công việc phụ bếp trên một con tàu. Khi ấy, Người chưa đứng trước quảng trường rộng lớn, chưa mang cương vị nguyên thủ và cũng chưa có trong tay một con đường đã được vạch sẵn. Đi cùng Người là lòng yêu nước, ý muốn học hỏi và quyết tâm tìm một lối đi cho quê hương. Chính điểm khởi đầu giản dị đó khiến hành trình năm 1911 trở thành một câu chuyện gần gũi với nhiều thế hệ trẻ.

Nguyễn Tất Thành sinh năm 1890 trên quê hương Nghệ An, lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân thống trị. Những nỗ lực cứu nước của các thế hệ đi trước cho thấy lòng yêu nước mãnh liệt, đồng thời đặt ra câu hỏi khó về con đường có thể đưa dân tộc đến độc lập. Trước câu hỏi ấy, Người lựa chọn ra nước ngoài để tìm hiểu thế giới. Sự lựa chọn thể hiện một cách tiếp cận chủ động: muốn giải quyết vấn đề của đất nước thì phải mở rộng hiểu biết, quan sát thực tế và tìm đến những điều chưa được giải đáp.

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, với tên Văn Ba, Nguyễn Tất Thành rời cảng Sài Gòn trên tàu Amiral Latouche Tréville. Công việc Người đảm nhận là phụ bếp. Những việc như chuẩn bị thực phẩm, dọn rửa và phục vụ nhà bếp đòi hỏi sức lực, sự chịu khó và kỷ luật hằng ngày. Ta thường nhớ mốc lên đường như một sự kiện lớn, nhưng bên trong sự kiện ấy là vô số công việc bình thường. Khát vọng muốn đi xa đã được nâng đỡ bằng khả năng tự lao động để sống và bền bỉ theo đuổi mục tiêu.

Điều đó đem lại một góc nhìn đáng quý về nghị lực. Một hoài bão chỉ tồn tại trong suy nghĩ sẽ khó vượt qua hoàn cảnh. Khi được nối với việc làm cụ thể, nó bắt đầu có hình hài. Với người thanh niên trên tàu, mỗi ngày làm việc vừa là cách duy trì cuộc sống vừa tạo điều kiện để tiếp tục hành trình. Hình ảnh ấy nhắc người đọc rằng những mục tiêu lớn không loại trừ công việc nhỏ. Chính thái độ nghiêm túc với việc trước mắt nhiều khi quyết định khả năng đi đến đích còn ở rất xa.

Trong những năm ở nước ngoài, Nguyễn Tất Thành rồi Nguyễn Ái Quốc trải qua nhiều môi trường lao động và hoạt động khác nhau. Người tiếp xúc với đời sống của người lao động, học ngoại ngữ, đọc sách báo và từng bước tham gia đời sống chính trị. Thế giới rộng lớn hiện ra không chỉ qua vẻ ngoài của những thành phố hay nền văn minh, mà còn qua sự khác biệt trong điều kiện sống của con người. Việc quan sát xã hội từ nhiều vị trí giúp quá trình tìm đường gắn với thực tế và với những vấn đề cụ thể của người bị áp bức.

Điểm đáng chú ý của sự tự học ấy là tính bền bỉ. Học tập trong điều kiện phải làm việc để mưu sinh luôn đòi hỏi cách sử dụng thời gian có ý thức. Ngoại ngữ mở đường cho việc giao tiếp và tiếp cận tài liệu; đọc sách báo giúp nhận biết những tư tưởng và phong trào đang vận động. Mỗi năng lực mới làm cho tầm nhìn rộng hơn, nhưng giá trị của chúng nằm ở khả năng kết nối với câu hỏi ban đầu về vận mệnh quê hương. Việc học có phương hướng nhờ một mục tiêu xuyên suốt.

Hành trình cứu nước vì vậy có thể được nhìn như quá trình đi từ tình cảm đến nhận thức rồi đến tổ chức hành động. Lòng thương dân và mong muốn độc lập là điểm xuất phát. Qua trải nghiệm, tìm hiểu và hoạt động, Người tiếp tục lựa chọn con đường cách mạng. Những bước chuyển ấy không diễn ra trong một ngày và không thể giải thích bằng một khoảnh khắc đơn lẻ. Câu chuyện có chiều sâu khi ta nhận ra công sức tích lũy phía sau, cùng việc thường xuyên đem những điều học được đối chiếu với thực tiễn.

Sau khoảng ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài, ngày 28 tháng 1 năm 1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Sự trở về nối liền hành trình tìm kiếm với công việc ngay trên quê hương. Từ khát vọng của người ra đi đến nhiệm vụ của người trở lại là một chặng đường dài của trải nghiệm và chuẩn bị. Trong hoàn cảnh mới, những hiểu biết ấy được đặt vào yêu cầu tập hợp lực lượng, xây dựng cơ sở và cùng đồng bào giành lấy cơ hội lịch sử.

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ người phụ bếp rời cảng năm nào đến người đứng trước đồng bào trong ngày độc lập, khoảng cách ấy gợi niềm xúc động. Nhưng chặng đường đó cũng gắn với sự đấu tranh, hy sinh của nhiều thế hệ và sức mạnh của nhân dân. Vai trò của Người hiện lên trong mối liên hệ với một dân tộc đã cùng đứng lên giành quyền làm chủ.

Khi nhìn lại, điều làm câu chuyện có sức lay động không chỉ là kết quả lớn lao mà còn là sự nhất quán trong mục đích. Đi qua nhiều nơi, làm nhiều công việc và sử dụng nhiều tên gọi, Người vẫn hướng về vấn đề của đất nước. Với một hành trình kéo dài, giữ được phương hướng là điều không dễ. Người đọc hôm nay có thể thấy ở đó một bài học về việc xác định giá trị mình muốn theo đuổi và kiên trì bồi đắp những năng lực cần thiết cho giá trị ấy.

Câu chuyện cũng gợi một cách hiểu sâu hơn về sự giản dị. Giản dị không đồng nghĩa với ít khát vọng; công việc bình thường không nói lên giới hạn của một con người. Một người có thể bắt đầu bằng vị trí rất nhỏ nhưng vẫn hướng đến điều có ích cho cộng đồng. Điều cần thiết là sự thành thực với mục tiêu, thái độ tôn trọng lao động và tinh thần học hỏi. Khi không xem việc nhỏ là điều đáng coi thường, con người có thêm khả năng tự đứng vững và hiểu đời sống của những người xung quanh.

Đối với thế hệ trẻ, hành trình năm 1911 còn đặt ra câu hỏi về việc học để làm gì. Kiến thức có ý nghĩa hơn khi giúp ta hiểu xã hội, giải quyết công việc và đóng góp cho người khác. Trong điều kiện hòa bình, sự tiếp nối có thể bắt đầu từ việc học chắc một nghề, rèn ngoại ngữ, giữ kỷ luật và làm việc có trách nhiệm. Không cần lặp lại hoàn cảnh của tiền nhân để trân trọng bài học của tiền nhân; điều cần là đem những giá trị ấy vào yêu cầu thực tế của thời đại mình.

Bến cảng năm xưa đã trở thành một địa chỉ của ký ức. Mỗi lần nhắc ngày 5 tháng 6 năm 1911, chúng ta nhớ một cuộc lên đường, đồng thời nhớ tinh thần dám tìm hiểu và dám bắt đầu bằng lao động. Hành trình của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy lòng yêu nước có thể được nuôi lớn bằng tri thức, sự kiên trì và sự gắn bó với con người. Từ những công việc lặng lẽ trên con tàu đến khát vọng độc lập của dân tộc, câu chuyện ấy vẫn nhắc mỗi người sống có phương hướng và biết biến điều mình tin thành việc mình làm.Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946; tác giả ảnh chưa xác định. Ảnh tư liệu thuộc phạm vi công cộng theo mô tả tệp trên Wikimedia Commons.

ho-chi-minh.jpg

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn